PGS.TS. Vũ Văn Tích: Hợp lực ba nhà, công nghệ thành động lực tăng trưởng Lào Cai
(DNTO) - PGS.TS. Vũ Văn Tích cho rằng Lào Cai muốn tăng trưởng hai con số cần chuyển từ khai thác nguồn lực sang nâng năng suất, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, khoa học công nghệ làm động lực.
Theo PGS.TS. Vũ Văn Tích, Phó giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% mỗi năm trở lên của Lào Cai sẽ khó đạt nếu địa phương tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn, tài nguyên và mở rộng quy mô sản xuất.
Ông cho rằng bài toán quan trọng hơn lúc này là làm thế nào để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự tham gia vào quá trình tạo ra tăng trưởng.
Nhìn từ các chủ trương lớn hiện nay, PGS.TS. Vũ Văn Tích nhận định Lào Cai đang có một nền tảng chính sách khá rõ. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Nghị quyết 68-NQ/TW đặt kinh tế tư nhân vào vị trí quan trọng và xác định đây là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo.
Trong khi đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tư nhân là những đột phá, hướng tới tăng trưởng GRDP bình quân từ 10% mỗi năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030.
“Câu hỏi bây giờ không còn là có cần đổi mới sáng tạo hay không, mà là tổ chức thực hiện thế nào để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống”, ông Tích nói.
Theo ông, đây cũng là lý do 8 bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được tỉnh Lào Cai công bố tại Thông báo 78/TB-UBND ngày 28/5/2026 có ý nghĩa đặc biệt. Những bài toán này không nên chỉ được nhìn như danh mục nhiệm vụ của cơ quan quản lý, mà cần trở thành những “đơn đặt hàng” mở cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các chuyên gia cùng tham gia.

PGS.TS. Vũ Văn Tích, Phó giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (Ảnh: Phan Chính)
Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP Lào Cai tăng khoảng 9,3%, bám sát kịch bản nhưng vẫn thấp hơn mức tăng trưởng hai con số mà tỉnh đặt ra. Khoảng cách này, theo PGS.TS. Vũ Văn Tích, cho thấy dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn lực, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng nâng hiệu quả sử dụng những nguồn lực hiện có.
“Với một tỉnh miền núi, biên giới, đất đai, lao động phổ thông và vốn đầu tư công đều có giới hạn. Muốn tăng trưởng cao hơn, phải tăng năng suất”, ông phân tích.
Ông dẫn khái niệm năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), cho rằng đây là phần phản ánh trình độ công nghệ, hiệu quả tổ chức sản xuất và năng lực đổi mới sáng tạo của nền kinh tế. Nếu chuyển được từ tăng trưởng dựa vào vốn và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào TFP, Lào Cai sẽ có cơ hội tạo ra giá trị lớn hơn mà không nhất thiết phải khai thác thêm nhiều tài nguyên.
Từ “ba nhà” đến những bài toán cụ thể
Một trong những điểm được PGS.TS. Vũ Văn Tích nhấn mạnh là mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp.
Theo ông, khoa học và công nghệ không thể tự tạo ra tăng trưởng nếu kết quả nghiên cứu không được đưa vào sản xuất, trong khi doanh nghiệp cũng khó có thể tự mình giải quyết toàn bộ bài toán công nghệ. Nhà nước vì vậy cần đóng vai trò kiến tạo thể chế, đặt hàng và tạo môi trường để các bên cùng tham gia.
Mô hình này được biết đến trong lý thuyết đổi mới sáng tạo với tên gọi “Triple Helix”, trong đó Nhà nước, viện - trường và doanh nghiệp có sự tương tác và chia sẻ chức năng. Nhà nước tạo cơ chế và nguồn lực ban đầu; nhà khoa học cung cấp tri thức, công nghệ; còn doanh nghiệp là nơi hấp thụ, thương mại hóa và đưa công nghệ ra thị trường.
“Điểm quan trọng nhất là không để rủi ro đổi mới sáng tạo dồn lên vai một chủ thể”, ông Tích nói.
Ông cho rằng Lào Cai có điều kiện để thử nghiệm mô hình này thông qua chính 8 bài toán lớn của tỉnh. Từ quy hoạch không gian phát triển, hành lang kinh tế, cửa khẩu và logistics đến công nghiệp chế biến, nông nghiệp giá trị cao, du lịch, thương mại điện tử, dữ liệu và nhân lực, mỗi bài toán đều có thể trở thành một không gian hợp tác giữa ba bên.
Chẳng hạn, với khoáng sản, thay vì chỉ khai thác và xuất khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm, Nhà nước có thể quy hoạch vùng và tạo cơ chế phù hợp; nhà khoa học nghiên cứu công nghệ tinh chế, vật liệu mới; doanh nghiệp đầu tư nhà máy và xây dựng thị trường. Giá trị tạo ra khi đó không nằm ở lượng tài nguyên khai thác được, mà ở hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Tương tự, dược liệu bản địa có thể được phát triển theo hướng chế biến sâu, gắn nghiên cứu khoa học với vùng nguyên liệu và doanh nghiệp. Du lịch cũng có thể chuyển từ khai thác cảnh quan đơn thuần sang các sản phẩm nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe gắn với dược liệu và đặc trưng địa phương.
Ở lĩnh vực thương mại, nền tảng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo số Lào Cai (LCDINE), nếu được vận hành hiệu quả, có thể trở thành hạ tầng kết nối cung - cầu công nghệ, hỗ trợ khởi nghiệp và tạo không gian để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực khoa học.
PGS.TS. Vũ Văn Tích lưu ý, điều quan trọng là các nền tảng số không nên dừng ở vai trò trình diễn. Chúng phải trở thành công cụ được sử dụng thường xuyên để doanh nghiệp tìm công nghệ, nhà khoa học tìm bài toán thực tế và cơ quan quản lý theo dõi được kết quả hợp tác.

Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế tư nhân tỉnh Lào Cai năm 2026 (Ảnh: Phan Chính)
Không chỉ cần chính sách, mà cần cơ chế để chính sách chạy
Theo PGS.TS. Vũ Văn Tích, một trong những điểm nghẽn của Lào Cai hiện nay không hẳn nằm ở việc thiếu chủ trương. Vấn đề lớn hơn là cơ chế để biến chủ trương thành công việc cụ thể.
Ông dẫn thực tế tỉnh hiện có 15 tổ chức khoa học và công nghệ nhưng hoạt động còn phân tán, chưa kết nối và chia sẻ thiết bị hiệu quả. Mô hình hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp đã được xác định là giải pháp quan trọng, song vẫn thiếu công cụ để vận hành thường xuyên và kết nối cung - cầu công nghệ.
Từ đó, ông đề xuất Lào Cai chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng mở đối với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia trong, ngoài nước cần được tham gia đề xuất giải pháp cho những bài toán tỉnh đang đặt ra.
Cùng với đó là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) ở những lĩnh vực mới như cửa khẩu thông minh, thương mại điện tử xuyên biên giới hay công nghệ chế biến khoáng sản. Theo ông, cách làm này giúp địa phương vừa kiểm soát được rủi ro, vừa tạo không gian cho những mô hình mới được thử nghiệm trước khi nhân rộng.
Một yêu cầu khác là phải gắn trách nhiệm của người đứng đầu với các chỉ tiêu cụ thể. Những mục tiêu như tỷ lệ sản phẩm chủ lực có truy xuất nguồn gốc số, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP hay số chuỗi giá trị được tổ chức theo mô hình số - xanh cần được lượng hóa, theo dõi và đánh giá định kỳ.
Tuy nhiên, theo ông Tích, trung tâm cuối cùng của quá trình này vẫn phải là doanh nghiệp. Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh và hợp tác xã cần được tiếp cận công nghệ, kỹ năng số và thương mại điện tử theo cách phù hợp với quy mô của họ.
“Không thể chỉ có một số doanh nghiệp lớn đổi mới sáng tạo rồi kỳ vọng cả nền kinh tế cùng chuyển động. Muốn tạo sức lan tỏa, phải giúp số đông doanh nghiệp nhỏ có khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ”, ông nói.
Lào Cai sau hợp nhất có không gian phát triển rộng hơn, với lợi thế về cửa khẩu, logistics, du lịch, nông nghiệp, dược liệu và công nghiệp chế biến. Nhưng theo PGS.TS. Vũ Văn Tích, lợi thế chỉ trở thành tăng trưởng khi được chuyển hóa thành giá trị.
Đó cũng là lý do ông cho rằng 8 bài toán lớn của Lào Cai cần được xem như những bài toán chung, trong đó Nhà nước đặt hàng và kiến tạo, nhà khoa học giải bài toán công nghệ, còn doanh nghiệp đưa kết quả vào thị trường.