Doanh nhân đề xuất lập "Ngân hàng tài sản văn hóa số Lào Cai”
(DNTO) - Doanh nhân Nguyễn Thị Khuyên cho rằng Lào Cai cần nhìn văn hóa như một tài sản kinh tế, dùng công nghệ và nguồn lực doanh nghiệp để biến bản sắc thành sản phẩm, sinh kế và lợi thế cạnh tranh.
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 tại Lào Cai, doanh nhân Nguyễn Thị Khuyên, Giám đốc Công ty TNHH Nasaki Việt Nam, đồng thời là người nghiên cứu về quốc tế học, đưa ra một cách tiếp cận về câu chuyện bảo tồn và phát triển văn hóa.
Theo bà Khuyên, trong bối cảnh Lào Cai bước vào giai đoạn phát triển mới, câu hỏi không chỉ là địa phương có những lợi thế gì, mà quan trọng hơn là làm thế nào để những lợi thế ấy được chuyển thành sản phẩm, doanh thu, sinh kế và năng lực cạnh tranh.
“Đừng chỉ xem văn hóa Lào Cai là thứ cần được bảo tồn. Hãy xem văn hóa là một loại tài sản vô hình cần được đầu tư, quản trị và tạo giá trị”, bà Khuyên nói.

Doanh nhân Nguyễn Thị Khuyên, Giám đốc Công ty TNHH Nasaki Việt Nam (Ảnh: Phan Chính)
Lào Cai có 33 cộng đồng dân tộc với những phong tục, ngôn ngữ, nghề thủ công, tri thức bản địa, lễ hội, ẩm thực và kiến trúc đặc trưng. Đây là nguồn tài nguyên khác biệt mà theo bà, không phải địa phương nào cũng có thể tạo dựng trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, quá trình hội nhập và phát triển nhanh cũng đang tạo ra những thay đổi mạnh trong đời sống văn hóa. Những giá trị truyền thống đứng cạnh lối sống hiện đại, không gian văn hóa bản địa ngày càng mở rộng, trong khi tri thức cộng đồng phải thích ứng với kinh tế thị trường và công nghệ số.
Theo bà Khuyên, vấn đề không phải ngăn những thay đổi đó xảy ra, mà là quản trị chúng để sự khác biệt trở thành lợi thế.
“Nếu chỉ bảo tồn, văn hóa có thể trở thành ký ức. Nếu chỉ thương mại hóa, văn hóa có thể mất đi tính nguyên bản”, bà nói.
Bà Hiền đề xuất giữ phần cốt lõi, đổi mới cách thể hiện và đưa những giá trị phù hợp vào chuỗi giá trị. Khi đó, văn hóa không chỉ được lưu giữ mà còn có thể tạo ra sản phẩm, thị trường và thu nhập cho chính cộng đồng sở hữu nó.
Một trong những đề xuất đáng chú ý là xây dựng “Bản đồ ADN văn hóa Lào Cai”. Thay vì chỉ thống kê tỉnh có bao nhiêu di sản, lễ hội hay nghệ nhân, bà Khuyên cho rằng cần trả lời được câu hỏi giá trị nào thực sự làm nên sự khác biệt của từng cộng đồng.
Mỗi giá trị văn hóa cần được nhìn ở ba lớp: giá trị văn hóa, giá trị thương hiệu và khả năng tạo giá trị kinh tế. Từ đó xác định đâu là những giá trị có thể phát triển thành sản phẩm, đâu cần được bảo vệ nghiêm ngặt và đâu có thể đưa vào hoạt động thương mại một cách phù hợp.
“Chúng ta không chỉ cần biết Lào Cai có rất nhiều văn hóa, mà phải biết giá trị nào là độc bản và giá trị nào có thể tạo ra sản phẩm”, bà nói.
Bà Khuyên cũng đề xuất xây dựng một “Ngân hàng tài sản văn hóa số Lào Cai”, tập hợp dữ liệu về nghệ nhân, ngôn ngữ, lễ hội, dân ca, dân vũ, nghề thủ công, kiến trúc, ẩm thực và tri thức bản địa.
Theo bà, số hóa không nên dừng ở việc đưa các giá trị văn hóa vào một kho lưu trữ. Điều quan trọng hơn là dữ liệu ấy phải có khả năng đi vào trường học, du lịch, thiết kế, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo và các ngành công nghiệp sáng tạo.
“Nếu số hóa chỉ để lưu trữ thì chúng ta mới làm được một nửa công việc. Giá trị của dữ liệu chỉ thực sự được phát huy khi nó được đưa vào đời sống và thị trường”, bà Khuyên cho rằng.
Từ đây, doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào quá trình biến tài sản văn hóa thành sản phẩm. Một doanh nghiệp du lịch có thể xây dựng hành trình từ một câu chuyện dân gian; doanh nghiệp thiết kế đưa hoa văn bản địa vào sản phẩm hiện đại; doanh nghiệp công nghệ sử dụng AI, AR, VR để kể những câu chuyện văn hóa theo cách gần với thế hệ trẻ.
Theo bà, đây chính là một hình thức đổi mới sáng tạo dựa trên tài sản bản địa, thay vì chỉ nhìn công nghệ như những giải pháp tách rời khỏi văn hóa.
Để mô hình này không dừng ở ý tưởng, bà Khuyên đề xuất tỉnh lựa chọn khoảng 3-5 tài sản văn hóa để thí điểm. Mỗi tài sản có một doanh nghiệp đồng hành, nhóm chuyên gia và cộng đồng chủ thể.

Tòa cảnh Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 tại Lào Cai
Mỗi chương trình cần tạo ra ít nhất một sản phẩm thương mại, có thể thuộc lĩnh vực du lịch, thời trang, thiết kế, thủ công, ẩm thực, sản phẩm số, phim, âm nhạc hoặc trải nghiệm văn hóa.
Sau đó, sản phẩm cần được xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện và đưa lên các nền tảng số để tiếp cận thị trường rộng hơn, trong đó có thị trường quốc tế.
“Thị trường không chỉ mua một sản phẩm. Thị trường mua câu chuyện, niềm tin và sự khác biệt”, bà Khuyên nói.
Điểm quan trọng, theo bà, là phải đo được hiệu quả. Không nên chỉ tính số lễ hội được tổ chức hay số di sản được bảo tồn, mà cần theo dõi số sản phẩm được hình thành, doanh nghiệp tham gia, doanh thu, việc làm, thu nhập quay trở lại cộng đồng và mức độ nhận diện thương hiệu Lào Cai.
Bà Khuyên cũng cho rằng doanh nghiệp tư nhân không nên chỉ được nhìn nhận là bên đóng góp kinh phí cho các hoạt động văn hóa. Doanh nghiệp có thể trở thành đối tác đồng sáng tạo, cùng cộng đồng và các nhà khoa học phát triển sản phẩm mới trên nền những giá trị vốn có.
Mô hình bà đề xuất được khái quát bằng sáu yếu tố: Nhà nước kiến tạo, nhà khoa học dẫn đường, doanh nghiệp đầu tư, cộng đồng làm chủ, công nghệ làm nền tảng và thị trường tạo giá trị.
Nếu các yếu tố này cùng vận hành, văn hóa có thể hình thành một vòng tuần hoàn mới: từ văn hóa đến số hóa, xây dựng thương hiệu, tạo sản phẩm, tiếp cận thị trường, tạo doanh thu và tái đầu tư cho cộng đồng.
Theo nữ doanh nhân, lợi thế của Lào Cai trong tương lai không chỉ nằm ở tài nguyên, vị trí địa lý hay hạ tầng. Những yếu tố đó có thể được đầu tư và xuất hiện ở nhiều nơi. Trong khi đó, một câu chuyện văn hóa, tri thức bản địa hay ký ức cộng đồng được gìn giữ đúng cách lại là thứ rất khó sao chép.
“Lào Cai không cần lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển. Lào Cai cần biến bảo tồn thành nền tảng của phát triển”, bà Khuyên nói.
Với cách tiếp cận này, văn hóa không còn đứng bên ngoài câu chuyện tăng trưởng. Nó có thể trở thành một phần của kinh tế địa phương, tạo sinh kế cho cộng đồng, mở thêm không gian cho doanh nghiệp và hình thành một lợi thế cạnh tranh mang dấu ấn riêng của Lào Cai trong quá trình hội nhập.