Nguyên Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn: Đừng để chính sách tốt mắc kẹt vì thủ tục
(DNTO) - Trao đổi với phóng viên Tạp chí Doanh Nhân Trẻ, ông Nguyễn Văn Phụng nguyên Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế (Bộ Tài Chính) cho rằng cần xã hội hóa phần mềm kế toán, hoàn thuế trực tiếp cho người nộp thừa và có cơ chế xử lý nhân văn với mã số thuế tồn đọng lâu năm.
Phóng viên: Thưa ông, việc chuẩn hóa phần mềm kế toán đang được đặt ra trong quá trình hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh chuyển sang phương thức quản lý hiện đại. Theo ông, Nhà nước nên trực tiếp xây dựng phần mềm hay để thị trường tham gia?
Ông Nguyễn Văn Phụng: Tôi cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp xây dựng một phần mềm kế toán dùng chung cho toàn bộ doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Nếu đặt vấn đề theo hướng đó, chúng ta đang ôm một công việc rất lớn trong khi chưa chắc tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực tế.
Kế toán không phải một lĩnh vực có thể áp dụng một mô hình duy nhất cho tất cả. Một hộ kinh doanh nhỏ có cách tổ chức sổ sách hoàn toàn khác doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp xây dựng hay doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Ngay trong cùng một ngành, quy mô và mô hình quản trị khác nhau cũng kéo theo những yêu cầu rất khác về phần mềm.
Trong khi đó, chức năng cốt lõi của cơ quan Thuế là xây dựng chính sách, tổ chức quản lý thuế, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế và bảo đảm việc thực hiện pháp luật thuế. Khối lượng công việc này đã rất lớn, nhất là trong bối cảnh ngành Thuế đang đẩy mạnh chuyển đổi số, quản lý dữ liệu và thay đổi phương thức quản lý đối với hộ kinh doanh.
Nếu cơ quan Thuế vừa phải hoàn thiện hệ thống quản lý của mình, vừa đứng ra phát triển một phần mềm kế toán cho hàng triệu người sử dụng, tôi e rằng nguồn lực sẽ bị phân tán. Quan trọng hơn, Nhà nước có thể vô tình cạnh tranh với chính khu vực doanh nghiệp công nghệ mà chúng ta đang muốn khuyến khích phát triển.
Theo tôi, hướng phù hợp hơn là Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo. Cơ quan quản lý đưa ra bộ tiêu chuẩn về kỹ thuật, dữ liệu, nghiệp vụ kế toán, khả năng kết nối và bảo đảm an toàn thông tin. Những nhà cung cấp đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn sẽ được công bố để doanh nghiệp, hộ kinh doanh lựa chọn.
Cách làm này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa tận dụng được năng lực của thị trường. Nhà nước không cần bỏ ngân sách để làm thay những việc mà doanh nghiệp tư nhân có thể làm tốt hơn.
Phóng viên: Nếu Nhà nước không trực tiếp làm phần mềm, theo ông cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh nên được thiết kế như thế nào để họ thực sự có thể tiếp cận các giải pháp phù hợp?
Ông Nguyễn Văn Phụng: Tôi cho rằng đây chính là điểm cần thay đổi trong tư duy hỗ trợ. Thay vì Nhà nước bỏ tiền xây dựng một phần mềm rồi yêu cầu tất cả sử dụng, hãy dùng nguồn lực đó để hỗ trợ trực tiếp người sử dụng.
Chẳng hạn, sau khi xây dựng bộ tiêu chuẩn và lựa chọn được danh sách các nhà cung cấp đáp ứng yêu cầu, Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh thông qua voucher hoặc một hình thức tương tự.
Người sử dụng được quyền lựa chọn phần mềm trong danh sách đã được kiểm định. Nhà cung cấp nào có sản phẩm tốt, dễ sử dụng, chi phí hợp lý và dịch vụ hỗ trợ hiệu quả thì sẽ được thị trường lựa chọn. Đây là cơ chế cạnh tranh tự nhiên và cũng tạo động lực để doanh nghiệp công nghệ liên tục cải tiến sản phẩm.
Chúng ta phải nhìn phần mềm kế toán như một dịch vụ, chứ không đơn thuần là một sản phẩm công nghệ. Viết được phần mềm mới chỉ là bước đầu. Sau đó còn có cập nhật quy định pháp luật, bảo trì hệ thống, bảo mật dữ liệu, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo người dùng và xử lý các tình huống phát sinh.
Khu vực tư nhân đã có rất nhiều doanh nghiệp làm những việc này. Họ có đội ngũ kỹ thuật, đội ngũ chăm sóc khách hàng và khả năng phản ứng nhanh trước thay đổi của thị trường.
Nếu Nhà nước tập trung nguồn lực vào những việc mình làm tốt nhất, còn phần triển khai dịch vụ để thị trường đảm nhiệm, hiệu quả xã hội có thể cao hơn rất nhiều.

Ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế - Bộ Tài Chính
Tôi vẫn cho rằng nguyên tắc quan trọng là Nhà nước chỉ nên làm những việc mà khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn làm. Còn khi thị trường có đủ năng lực, hãy tạo hành lang pháp lý và tiêu chuẩn để thị trường vận hành.
Phóng viên: Quốc hội đã thông qua chính sách giảm 30% thuế thu nhập đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh thuộc diện được hưởng. Theo ông, làm thế nào để chính sách hỗ trợ này nhanh chóng chuyển thành nguồn lực thực tế cho người dân và doanh nghiệp?
Ông Nguyễn Văn Phụng: Chính sách giảm thuế là một tín hiệu rất tích cực trong bối cảnh cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn về thị trường, chi phí và dòng tiền.
Nhưng chính sách thuế chỉ thực sự có ý nghĩa khi người thụ hưởng nhận được lợi ích một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Trong thực tế, có những hộ kinh doanh đã kê khai và nộp thuế theo mức cũ trước thời điểm chính sách mới được áp dụng. Khi chính sách có hiệu lực, có thể phát sinh trường hợp người nộp thuế đã nộp cao hơn số phải nộp theo quy định mới.
Câu hỏi đặt ra là chúng ta xử lý phần chênh lệch này như thế nào.
Cách làm truyền thống thường là xác định số tiền nộp thừa và cho khấu trừ vào nghĩa vụ thuế của các kỳ tiếp theo. Về nguyên tắc, cách này không sai. Nhưng xét dưới góc độ hỗ trợ doanh nghiệp và kích thích dòng tiền, tôi cho rằng nên nghiên cứu phương án hoàn trả trực tiếp cho những trường hợp đủ điều kiện.
Công nghệ hiện nay cho phép cơ quan Thuế quản lý dữ liệu người nộp thuế rất tốt. Khi dữ liệu đã được chuẩn hóa, việc xác định ai nộp thừa, số tiền bao nhiêu và tài khoản nào để hoàn trả về cơ bản có thể được tự động hóa ở mức cao.
Nếu một doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh đã nộp thừa, hãy trả lại tiền cho họ thay vì để khoản tiền đó nằm trong hệ thống rồi chờ bù trừ qua nhiều kỳ.
Điều này không chỉ có ý nghĩa về tài chính. Nó còn là một phép thử đối với năng lực quản trị của cơ quan Nhà nước.
Một chính sách giảm thuế vài chục triệu đồng có thể không phải số tiền quá lớn đối với một doanh nghiệp lớn, nhưng với một hộ kinh doanh nhỏ, đó có thể là khoản vốn để nhập hàng, trả tiền thuê mặt bằng, trả lương hoặc duy trì hoạt động.
Vì vậy, tôi cho rằng tinh thần của chính sách hỗ trợ phải được thể hiện ngay trong cách thực thi. Nếu chính sách nhằm giải phóng nguồn lực cho nền kinh tế thì nguồn lực đó cần được đưa trở lại nền kinh tế càng sớm càng tốt.
Phóng viên: Trong quá trình làm sạch dữ liệu mã số thuế, nhiều trường hợp đã ngừng kinh doanh từ nhiều năm trước nhưng vẫn tồn tại nghĩa vụ về thủ tục. Có trường hợp số tiền phạt lên tới hàng chục triệu đồng. Theo ông, đây có phải là điểm cần xem xét lại?
Ông Nguyễn Văn Phụng: Tôi cho rằng cần nhìn vấn đề này rất thực tế.
Không thể đánh đồng một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh, có doanh thu, có nghĩa vụ thuế nhưng cố tình không thực hiện với một hộ kinh doanh đã nghỉ từ 10-15 năm, không còn hoạt động, không phát sinh doanh thu và không có hành vi trốn thuế.
Hai nhóm này phải được phân loại.
Trong quá trình quản lý thuế, xử phạt là cần thiết để bảo đảm kỷ cương. Nhưng xử phạt phải hướng tới mục tiêu ngăn ngừa vi phạm và bảo vệ nguồn thu ngân sách. Với những trường hợp chỉ tồn tại vi phạm thủ tục từ nhiều năm trước nhưng thực tế không gây thất thu ngân sách, nếu áp dụng máy móc các mức phạt cộng dồn thì đôi khi lại tạo ra hệ quả ngược.
Có trường hợp một hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động từ rất lâu. Họ không còn doanh thu, không nợ thuế gốc nhưng mã số thuế vẫn tồn tại trên hệ thống. Khi cơ quan quản lý triển khai chiến dịch làm sạch dữ liệu, người dân chủ động đến cơ quan Thuế để xử lý.
Nếu sau đó họ phải đối mặt với khoản tiền phạt lên tới hàng chục triệu đồng do những nghĩa vụ thủ tục phát sinh từ nhiều năm trước, tâm lý đầu tiên có thể không phải là hợp tác mà là né tránh.
Thậm chí, nếu chế tài quá nặng và thiếu phân loại, nguy cơ phát sinh tiêu cực là điều cần cảnh giác. Đây là điều hoàn toàn không mong muốn trong một chương trình vốn được thực hiện nhằm tăng tính minh bạch của hệ thống thuế.
Theo tôi, chính sách phải phân biệt rất rõ giữa nợ thuế gốc và vi phạm thủ tục.
Phóng viên: Vậy ông đề xuất cơ chế nào để vừa bảo đảm kỷ cương thuế, vừa giải quyết dứt điểm các mã số thuế tồn đọng lâu năm?
Ông Nguyễn Văn Phụng: Tôi đề nghị trước hết phải tiến hành phân loại dữ liệu.
Một nhóm là những trường hợp thực sự có nợ thuế gốc, có hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ. Nhóm này phải được xử lý theo đúng quy định. Không thể lấy lý do làm sạch dữ liệu để bỏ qua nghĩa vụ ngân sách.
Nhóm thứ hai là những mã số thuế đã ngừng hoạt động từ lâu, không phát sinh doanh thu, không có nợ thuế gốc và chỉ còn tồn tại các nghĩa vụ thủ tục hoặc những khoản lệ phí cũ. Với nhóm này, cần có cách tiếp cận khác.
Tôi cho rằng Bộ Tài chính và cơ quan Thuế nên tổng hợp quy mô, số lượng và tính chất của các trường hợp tồn đọng để báo cáo Chính phủ, Quốc hội xem xét một cơ chế xử lý phù hợp.
Nếu cần thiết, có thể nghiên cứu một nghị quyết hoặc cơ chế đặc thù để giải quyết một lần những tồn đọng lịch sử này. Mục tiêu là làm sạch dữ liệu nhưng đồng thời phải giải phóng người dân khỏi những nghĩa vụ thủ tục không còn nhiều ý nghĩa quản lý.
Chúng ta cũng cần xem xét những khoản lệ phí môn bài cũ đối với các hộ đã ngừng kinh doanh từ rất lâu, nhất là trong bối cảnh chính sách hiện nay đã có những thay đổi theo hướng giảm gánh nặng chi phí cho hộ kinh doanh.
Tôi cho rằng đây không phải là câu chuyện “xóa thuế” một cách tùy tiện. Đây là câu chuyện xử lý những tồn đọng lịch sử trên cơ sở phân loại đúng bản chất.
Quản lý hiện đại không chỉ là kiểm soát chặt chẽ mà còn phải biết tháo gỡ những điểm nghẽn do chính hệ thống tích tụ qua nhiều năm.
Nếu làm tốt, chiến dịch làm sạch mã số thuế sẽ đạt được hai mục tiêu cùng lúc: dữ liệu quản lý chính xác hơn và người dân không còn tâm lý e ngại khi chủ động làm việc với cơ quan Thuế.
Đó cũng là điều quan trọng để xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi và có niềm tin.
Tôi cho rằng trong quản lý thuế, kỷ cương và sự đồng hành không đối lập với nhau. Kỷ cương là yêu cầu bắt buộc, nhưng cách thực thi cần có sự phân loại, hợp lý và phù hợp với thực tế.
Khi người dân thấy cơ quan quản lý không chỉ thu đúng, thu đủ mà còn chủ động trả lại khoản tiền họ đã nộp thừa, tháo gỡ những vướng mắc không còn phù hợp và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, niềm tin vào chính sách sẽ được củng cố.
Cuối cùng, mục tiêu của cải cách thuế không chỉ là quản lý được nhiều hơn, mà phải tạo ra một môi trường để người dân và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ một cách thuận lợi, minh bạch và ít chi phí hơn.
Xin cảm ơn ông!