Gỡ ‘điểm nghẽn’ pháp lý cho doanh nghiệp: Từ chống hình sự hóa đến bệ phóng Ban Pháp lý chuyên trách
(DNTO) - Giữa lúc làn sóng dịch chuyển dòng vốn và yêu cầu chuyển đổi mô hình đang đặt ra những bài toán sống còn cho nền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với một nghịch lý lớn: nguồn lực vĩ mô dồi dào nhưng "hàng rào" thể chế, nỗi lo hình sự hóa các quan hệ kinh tế và gánh nặng chi phí tuân thủ lại đang kìm hãm sức bật của khối tư nhân.
Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 khu vực phía Nam. Ảnh: Đinh Hoa
Trong bối cảnh Quốc hội và Chính phủ đang đẩy mạnh hoàn thiện thể chế phát triển đất nước với tinh thần "đột phá của đột phá", nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ, vẫn đang chần chừ đổi mới trước hàng loạt rủi ro bủa vây.
Theo định hướng từ các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 66-NQ/TW và 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu đổi mới công tác pháp luật và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đã được xác lập rõ ràng. Thế nhưng, những "điểm nghẽn" thực tế từ nỗi lo hình sự hóa quan hệ kinh tế, chi phí tố tụng đắt đỏ cho đến sự thiếu vắng một "bờ đê" bảo vệ pháp lý đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc định hình lại phương thức tự vệ chính đáng của cộng đồng doanh nhân.
Khi "vòng lao lý" và chi phí tố tụng đắt đỏ vắt kiệt sức doanh nghiệp
Rào cản lớn nhất khiến doanh nhân e ngại khi ký kết các hợp đồng rủi ro cao hoặc mở rộng đầu tư chính là nguy cơ bị hình sự hóa các tranh chấp dân sự - thương mại. Vấn đề này bắt nguồn từ việc áp dụng Điều 175 Bộ luật Hình sự về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Quy định hiện hành sử dụng những cụm từ như "sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp" hay "bỏ trốn" với phạm vi diễn giải quá rộng, dễ bị suy diễn hoặc lạm dụng trong quá trình điều tra, khởi tố. Việc đồng nhất khái niệm "bất hợp pháp" với mọi hành vi trái quy định ở bất kỳ lĩnh vực nào (kể cả dân sự hay doanh nghiệp) vô hình trung đẩy những người quản lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán vào ranh giới của vòng lao lý.
Ranh giới giữa trách nhiệm hình sự và quan hệ dân sự, thương mại trong những trường hợp này rất mong manh, phụ thuộc nhiều vào quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng. Từ thực tiễn công tác tư vấn pháp lý, cho thấy không ít đối tác cố tình lợi dụng kẽ hở này để đẩy các tranh chấp chậm thanh toán thuần túy do khó khăn kinh doanh sang hướng xử lý hình sự nhằm mục đích gây áp lực.
Cùng với rủi ro hình sự, gánh nặng khổng lồ về thời gian và chi phí giải quyết tranh chấp đang vắt kiệt sức chịu đựng của giới kinh doanh. Dẫn chiếu báo cáo Doing Business 2020 của Ngân hàng Thế giới, thời gian trung bình để xử lý một tranh chấp hợp đồng qua cấp sơ thẩm tại Việt Nam lên tới khoảng 400 ngày, cao hơn rất nhiều so với mức 120 ngày tại Singapore.
Thêm vào đó, tổng chi phí tố tụng trung bình chiếm đến 29% giá trị của vụ tranh chấp. Bất cập lớn nhất nằm ở cơ chế phân bổ chi phí, khi mỗi bên đương sự tại Việt Nam thường phải tự chịu phí luật sư của mình; khác biệt hoàn toàn với nguyên tắc 'loser pays' (bên thua kiện bồi hoàn phần lớn chi phí) đang được áp dụng tại các quốc gia theo hệ thống Thông luật như Anh, Úc hay Canada.
Sự thiếu vắng nguyên tắc này tại Việt Nam khiến bên vi phạm thường cố tình chây ì, chiếm dụng vốn, trong khi bên bị hại phải đắn đo giữa lợi ích thu hồi được và chi phí theo kiện quá lớn. Hệ quả là nhiều doanh nghiệp cho rằng lợi ích của mình không được pháp luật bảo vệ, chưa hình thành thói quen sử dụng pháp luật như một công cụ chính trong giải quyết tranh chấp.
Bế tắc trong khâu thu hồi công nợ thậm chí đã đẩy không ít doanh nghiệp tìm đến các dịch vụ "đòi nợ thuê" núp bóng, kéo theo những rủi ro phát sinh bạo lực và vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Rủi ro pháp lý trong giao kết hợp đồng và nỗi lo "hình sự hóa" quan hệ kinh tế. Ảnh minh họa
Giải pháp đột phá từ Ban Pháp lý chuyên trách
Những sức ép pháp lý bủa vây này càng trở nên nặng nề hơn đối với nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ. Khảo sát của Bộ Tư pháp giai đoạn 2021-2022 cho thấy chỉ có vỏn vẹn 38% doanh nghiệp được hỏi là có trang bị bộ phận pháp chế. Khi hầu hết nguồn lực tài chính bị dồn vào khâu sản xuất, kinh doanh và trả lương nhân công, khối doanh nghiệp này hoàn toàn rơi vào thế bị động khi phải đối diện với các rủi ro liên quan đến hợp đồng, thuế hay sở hữu trí tuệ.
Dù cả nước hiện có hơn 70.000 hội các cấp, song phần lớn chỉ hoạt động sôi nổi trong mảng xúc tiến thương mại hoặc công tác thiện nguyện. Hoạt động hỗ trợ pháp lý mới chỉ dừng ở mức độ tổ chức hội thảo, phát hành bản tin bề nổi, thiếu vắng cơ chế tư vấn chuyên sâu, chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu tập trung và đặc biệt là chưa tập hợp được đội ngũ luật sư hội viên thành một lực lượng tư vấn chung.
Để khơi thông những điểm nghẽn mang tính hệ thống này, bên cạnh các nhóm kiến nghị yêu cầu Nhà nước cần giới hạn việc hình sự hóa, mở rộng thủ tục tố tụng rút gọn và thí điểm nguyên tắc 'loser pays', thì cần có một giải pháp tự vệ mang tính đột phá từ bên trong tổ chức.
Đó là việc tiên phong thành lập Ban Chính sách - Pháp lý trực thuộc Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam. Cơ quan này được định hình là một đầu mối chuyên trách, quy tụ sự tham gia của các công ty luật hội viên, đội ngũ luật gia và cố vấn doanh nghiệp nhằm cung cấp dịch vụ hỗ trợ pháp luật nhanh chóng, chính xác.
Ban Pháp lý sẽ gánh vác các nhiệm vụ cốt lõi từ việc tổ chức đào tạo quản trị rủi ro định kỳ, thực hiện chức năng hòa giải - trọng tài nội bộ giúp giải quyết tranh chấp nhanh gọn, cho đến việc liên tục truyền thông và lấy ý kiến hội viên để phản biện kịp thời các dự thảo chính sách. Việc hình thành một mô hình tập hợp như vậy không chỉ tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề luật sư cọ xát thực tiễn, mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.
Tựu trung, nỗ lực kiến tạo môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch không thể chỉ trông chờ vào một phía cơ quan lập pháp, mà cần sự chủ động thiết lập công cụ tự vệ từ chính các hiệp hội đại diện. Nếu coi thể chế kiến tạo là nền móng khơi thông dòng chảy phát triển, thì hỗ trợ pháp lý hiệu quả chính là bờ đê vững chắc bảo vệ dòng chảy ấy trước những cú sốc pháp lý và điểm nghẽn thể chế.