Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh: Khơi thông vốn, không thể hạ chuẩn tín dụng doanh nghiệp nhỏ
(DNTO) - Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh cho rằng mở rộng tín dụng phải đi cùng minh bạch tài chính, đánh giá đúng dòng tiền và khả năng trả nợ, để vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm và đúng mục đích.
Tại Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” ngày 18/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Đây là lực lượng đông đảo, năng động, hiện diện ở hầu hết ngành, lĩnh vực và có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng được xác định là một trong những nguồn lực thiết yếu giúp doanh nghiệp duy trì, phục hồi và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo Phó Thống đốc, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các giải pháp tập trung vào hoàn thiện thể chế, ổn định thị trường tiền tệ, điều hành tín dụng, triển khai chương trình tín dụng ưu đãi, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp.
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu tại Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Một trong những hướng được ngành Ngân hàng chú trọng là khai thác, kết nối dữ liệu, ứng dụng công nghệ và AI có trách nhiệm trong hoạt động ngân hàng. Mục tiêu là giảm chi phí, nâng cao chất lượng thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ dữ liệu khách hàng.
Những nỗ lực này được phản ánh qua quy mô tín dụng đang tăng. Theo số liệu được Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh công bố, đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 21 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hơn 100 tổ chức tín dụng hiện có phát sinh dư nợ. Tổng dư nợ đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.
Đáng chú ý, tốc độ tăng tín dụng đối với nhóm doanh nghiệp này cao hơn mức tăng trưởng tín dụng bình quân của toàn nền kinh tế.
Theo ông Cảnh, trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, vai trò của ngành Ngân hàng không chỉ dừng ở việc cung ứng vốn mà còn phải góp phần định hướng dòng tiền vào những lĩnh vực tạo động lực mới cho tăng trưởng.
Ngay trong tháng 8, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai chương trình tín dụng hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng.
Sau hơn một tháng, số lượng ngân hàng tham gia đã tăng từ 4 ngân hàng thương mại nhà nước với tổng quy mô đăng ký 220.000 tỷ đồng lên 19 ngân hàng thương mại công bố chương trình, sản phẩm ưu đãi với tổng quy mô trên 407.000 tỷ đồng.
Mức lãi suất ưu đãi được các ngân hàng cam kết thấp hơn 1-2% so với lãi suất bình quân cùng kỳ hạn hiện đang cho vay. Tuy nhiên, Phó Thống đốc cho rằng những kết quả này chưa đồng nghĩa với việc mọi điểm nghẽn trong tiếp cận vốn đã được giải quyết.
Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chính, vốn chủ sở hữu và khả năng chống chịu rủi ro còn hạn chế. Năng lực quản trị, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp cũng chưa đồng đều.
Toàn cảnh Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”
Một bộ phận doanh nghiệp chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh đủ khả thi để chứng minh khả năng trả nợ. Trong khi đó, thông tin tài chính và báo cáo dòng tiền chưa đầy đủ, minh bạch.
Ở chiều ngược lại, các tổ chức tín dụng đang ngày càng áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế, kéo theo yêu cầu cao hơn về tính minh bạch của thông tin tài chính và tài sản bảo đảm.
“Không thể thực hiện giải pháp hạ chuẩn để tạo điều kiện cấp tín dụng”, ông Cảnh nhấn mạnh.
Không hạ chuẩn tín dụng, nhưng cần đổi cách đánh giá
Theo Phó Thống đốc, vấn đề cốt lõi trong khơi thông dòng vốn nằm ở khả năng thẩm định doanh nghiệp, đặc biệt với những khoản vay không có tài sản bảo đảm. Khi đó, tổ chức tín dụng cần có đủ thông tin về tình hình tài chính, dòng tiền, lịch sử hoạt động và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, tháo gỡ điểm nghẽn đòi hỏi giải pháp đồng thời từ chính sách ngân hàng và sự chủ động minh bạch tài chính của doanh nghiệp.
Định hướng này cũng được đặt trong yêu cầu phát triển đa dạng các nguồn vốn, tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, trong đó ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, tập thể và cá nhân, gắn với mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn 2026-2030.
Tại hội nghị, Phó Thống đốc dẫn lại chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng tại buổi làm việc ngày 10/8 với Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp về tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng: vốn phải đến đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích và với chi phí hợp lý.
Theo ông Cảnh, đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với hội nghị khi các bên cần tập trung trao đổi thực chất về những vướng mắc trong tiếp cận vốn, từ cơ chế chính sách, chương trình và sản phẩm tín dụng đến khả năng minh bạch thông tin và hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Điều ngành Ngân hàng mong muốn là những ý kiến từ doanh nghiệp, ngân hàng, hiệp hội và cơ quan quản lý sẽ giúp nhận diện rõ hơn các điểm nghẽn, từ đó hình thành những giải pháp thiết thực, khả thi.
Về phía doanh nghiệp, bài toán không chỉ nằm ở việc có tài sản bảo đảm hay không, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng chứng minh sức khỏe tài chính và năng lực tạo dòng tiền.
Ở chiều ngược lại, việc số hóa dữ liệu, ứng dụng công nghệ và tăng kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp được kỳ vọng giúp quá trình đánh giá tín dụng có thêm cơ sở, giảm chi phí và rút ngắn thời gian xử lý.
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khẳng định, khơi thông tín dụng không đồng nghĩa với hạ chuẩn cho vay. Mục tiêu là tạo ra cơ chế để ngân hàng đánh giá đúng hơn năng lực của doanh nghiệp, đồng thời buộc doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, chất lượng quản trị và khả năng chứng minh dòng tiền.