(DNTO) - Bà Nguyễn Thị Nga, Giám đốc Khối vận hành Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcombank) có cuộc trao đổi với Doanh Nhân Trẻ Việt Nam về tình hình ngành ngân hàng trong năm qua và các dự báo thời gian tới.
Bà Nguyễn Thị Nga
- Giám đốc Khối vận hành - Giám đốc Văn phòng Quản lý dự án PVCombank.
- Trước đó, bà Nga đảm nhiệm nhiều chức danh quan trọng tại VCB và các Ngân hàng cổ phần: Phó Phòng quản lý rủi ro, Giám đốc Chi nhánh, Giám đốc Khu vực, Giám đốc Vùng và Phó Giám đốc Khối…
- Ngoài ra, bà còn tham gia thiết kế chương trình, viết tài liệu và giảng dạy các chuyên môn sâu trong lĩnh vực ngân hàng; đồng thời là giảng viên thỉnh giảng của Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Ngân hàng, Học viên Chính sách Phát triển – Bộ KHĐT…
Bà đánh giá thế nào về tác động của đại dịch Covid-19 đối với ngành ngân hàng trong một năm qua?
Năm qua, ngành ngân hàng cũng như bao ngành khác gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng khó khăn tác động đến ngân hàng chậm hơn so với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp bị ảnh hưởng tức thời khi dịch bệnh xảy ra vì không mua bán hàng hóa cũng như xuất nhập khẩu được. Về phía ngân hàng, dù doanh nghiệp khó khăn thì vẫn phải để dòng tiền luân chuyển được. Tôi cho rằng hậu quả của đại dịch đối với ngân hàng không đến trong năm nay mà sẽ là năm tới.
Vì sao bà có đánh giá như vậy?
Như tôi đã nói, nếu như thị trường khó khăn, lợi nhuận doanh nghiệp giảm, nợ xấu phát sinh cao... Trong khi ngân hàng phụ thuộc vào nền kinh tế, nếu nền kinh tế không khởi sắc lên thì ngành ngân hàng trong năm tới sẽ đối mặt với nhiều khó khăn.
Năm nay doanh nghiệp vẫn còn đang xoay sở được, họ vẫn còn những nguồn tích lũy từ những năm trước để trả gốc và lãi ngân hàng. Nhưng nhiều khả năng sang năm tới thì nguồn tích lũy đó cạn kiệt, ngân hàng cũng không có thu nhập nữa, nợ xấu lại phát sinh thêm.
Bao giờ ngân hàng cũng có độ "trễ". Khi nền kinh tế khởi sắc thì doanh nghiệp sẽ khởi sắc trước, còn khi khó khăn, ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lâu dài.
Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có đề nghị các ngân hàng giảm lãi suất cho vay để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục hồi sau dịch. Vậy các chương trình giảm lãi suất này đang được triển khai thế nào?
Việc giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của NHNN đều được các ngân hàng áp dụng. Giai đoạn này lãi suất tiền gửi cũng đang giảm. Vì lãi suất đầu vào giảm nên lãi suất đầu ra cũng giảm.
Thêm nữa, nhu cầu hấp thụ vốn của các ngân hàng đang rất thấp. Cho nên việc dư thừa vốn là áp lực cho các ngân hàng giảm lãi suất để đẩy tiền ra.
Vậy việc khách hàng tiếp cận các khoản vay này có dễ dàng hay không?
Khách hàng có tiếp cận được với lãi vay không lại là vấn đề khác. Lãi suất có thể là rẻ hơn, nhưng theo tôi đang tồn tại hai vấn đề. Hiện nay mức tăng trưởng tín dụng đang rất thấp ở hầu hết các ngân hàng, và tôi không đặt kỳ vọng từ nay đến cuối năm mức này sẽ tăng lên.
Doanh nghiệp khó khăn hiện nay khó tiếp cận các khoản vay do vướng điều kiện. Ảnh:TL
Thứ nhất, các doanh nghiệp làm ăn khó khăn nên họ không đủ điều kiện để vay ngân hàng nữa, họ không có phương án kinh doanh hiệu quả. Nếu như cho vay để doanh nghiệp duy trì sự tôn tại, ngân hàng rất khó giải ngân khi doanh nghiệp không có đầu ra.
Còn vay để trả nợ cũ, để cứu doanh nghiệp là các khoản cho vay đầy rủi ro mà các ngân hàng không lựa chọn. Điều này đòi hỏi phải có các quỹ hỗ trợ từ Chính phủ.
Ví dụ, một hãng hàng không quốc gia đang lỗ lên đến con số 10.000 tỷ đồng, không ngân hàng cổ phần nào dám cho vay để gánh khoản lỗ đó, trong khi không có doanh thu về để trả nợ ngân hàng, đó là một trường hợp cụ thể.
Thứ hai, các doanh nghiệp lớn đủ điều kiện vay thì nguồn vốn của họ rất dồi dào, nhưng các phương án mở rộng kinh doanh không còn nhiều, nên họ có nhu cầu gửi tiền chứ không vay tiền nữa.
Có nghĩa hiện nay cả khách hàng và ngân hàng đang rất khó khăn trong việc tiếp cận nhau?
Câu chuyện ở đây là đối tượng được vay và đủ điều kiện vay lại không có nhu cầu vay, còn đối tượng muốn vay để cứu doanh nghiệp thì không thể vay được vì không đủ tài sản đảm bảo, không đủ điều kiện vay, không có phương án cho vay.
Tôi không nghĩ lãi suất cho vay giảm là động lực quan trọng để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được. Cho nên vấn đề này phải giải quyết ở góc độ khác. Phải tạo được nhiều đơn hàng, nhiều giao dịch và công ăn việc làm để các doanh nghiệp có thể xây dựng các phương án kinh doanh hiệu quả.
Đối với các doanh nghiệp quá khó khăn, nên có một gói cứu trợ từ ngân sách nhà nước, còn ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh sẽ khó chấp nhận rủi ro.
Xin bà cho biết tình hình giải quyết các khoản vay lớn hiện nay như thế nào?
Đối với các khoản vay lớn, vấn đề mà ngân hàng lo lắng là nợ xấu tăng cao và giá trị tài sản bị giảm sút do các khoản vay lớn đều phải có tài sản đảm bảo, ví dụ như bất động sản. Nếu cho vay dự án xây dựng thì ngân hàng phải nhận thế chấp cả dự án đó, và khả năng dự án đó không đạt hiệu quả như mong đợi. May mắn là cho đến nay dòng tiền vẫn chưa ảnh hưởng quá nhiều. Nhưng dự báo sang năm có thể sẽ tác động nhiều hơn.
Có thể thấy ngành ngân hàng đã có thể dự báo được tình hình khó khăn sắp tới. Vậy theo bà cần có những biện pháp gì để chủ động giảm thiểu thiệt hại?
Biện pháp khả dĩ nhất mà PVCombank đang triển khai áp dụng là không mở rộng tín dụng trong năm tới, cố gắng thu hồi nợ, giải quyết các khoản nợ xấu, quản lý nợ sau vay tốt để đảm bảo không phát sinh thêm nợ xấu nữa.
Thứ hai, hỗ trợ khách hàng tháo gỡ khó khăn ngay từ bây giờ, cơ cấu lại các khoản vay, có thể hỗ trợ kéo dài thời gian trả nợ gốc để khách hàng tập trung trả lãi thôi hoặc giảm bớt lãi để giảm áp lực cho khách hàng.
Thứ ba, bắt buộc phải cắt giảm chi phí, không tuyển nhân viên mới, nâng cao năng suất lao động, giảm bớt chi phí hoạt động đi. Bởi vì xét cho cùng, lợi nhuận doanh nghiệp đến từ việc tăng doanh thu và giảm chi phí. Doanh thu chắc chắn sẽ khó tăng trong năm tới thì bắt buộc phải giảm chi phí để đảm bảo không bị thiệt hại quá nhiều.
Và chuyển đổi số ngân hàng là việc cấp thiết phải làm, nhưng ngành ngân hàng sẽ thận trọng hơn, đầu tư các dự án thật sự hiệu quả và cần thiết cho khách hàng.
Năm tới sẽ không phải là năm ngành ngân hàng đầu tư ồ ạt, vì đầu tư phải bỏ tiền ra và đây không phải là giai đoạn bỏ ra quá nhiều tiền.
Sáng ngày 8/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã phê chuẩn bổ nhiệm ông Ngô Văn Tuấn giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Trong bối cảnh Mỹ tái cấu trúc toàn diện chuỗi cung ứng bằng hàng rào thuế đối ứng, Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến thay thế hàng đầu, nhưng cũng đồng thời bước vào tầm ngắm phòng vệ thương mại khắt khe nhất từ trước đến nay.
Mỹ và Iran đã đạt được một thỏa thuận ngừng bắn vào tối 7/4, chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Trump đe dọa sẽ “xóa sổ toàn bộ nền văn minh” của Iran nếu nước này không cho phép tàu thương mại đi lại an toàn qua eo biển Hormuz.
Việc dựng lên các rào cản thuế đối ứng đã buộc các tập đoàn đa quốc gia phải khai tử mô hình chuỗi cung ứng tối ưu chi phí để chuyển sang mô hình ưu tiên tính an toàn và nội địa hóa.
Sau một năm triển khai các dòng thuế đối ứng nhắm vào hàng hóa nhập khẩu, nền kinh tế Mỹ đang chứng kiến sự dịch chuyển phức tạp giữa nguồn thu ngân sách tăng vọt và áp lực chi phí đè nặng lên vai người tiêu dùng nội địa.
Chiều 7/4, tại Kỳ họp thứ Nhất, với 495/495 đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết bầu Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lê Minh Hưng.
Với 495 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành, đạt 99%, sáng 7/4/2026 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Với 491/491 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội khóa XVI đối với đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội khóa XV.
Bất chấp các lệnh trừng phạt khắc nghiệt nhất từ phương Tây, xuất khẩu dầu mỏ của Iran đã chạm mức cao nhất trong 6 năm qua, mang về nguồn ngoại tệ khổng lồ để duy trì nền kinh tế. Sự trỗi dậy của dòng tiền này, thông qua một mạng lưới hậu cần và tài chính "bóng tối" tinh vi, đang tạo ra những biến số mới cho thị trường năng lượng toàn cầu và áp lực điều hành giá tại Việt Nam.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động dưới tác động của các yếu tố địa chính trị, nhiều quốc gia, đặc biệt tại Đông Nam Á, đang đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm nhiên liệu và giảm tải hệ thống năng lượng. Xu hướng làm việc linh hoạt, giảm di chuyển và tối ưu tiêu thụ điện đang được xem là một trong những giải pháp hiệu quả.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu năm 2026 nhiều biến động địa chính trị phức tạp và sự đứt gãy khó lường của các chuỗi cung ứng, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng.
Hiện nay, công tác giải phóng mặt bằng đối với dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 đã hoàn thành giai đoạn kiểm kê, xác minh nguồn gốc đất với 835/835 hộ, đạt 100%, tổ chức niêm yết phương án bồi thường đợt 4 với 5,3ha; dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2, cũng hoàn thành công tác kiểm kê và xác định nguồn gốc đất 534/534 hộ (đạt 100%) và hoàn thành việc áp giá bồi thường với 534 hộ dân...
Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông đẩy giá xăng dầu thế giới biến động phức tạp, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư miễn một số khoản phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không và hàng hải. Đây được xem là phản ứng chính sách kịp thời nhằm giảm áp lực chi phí, bảo vệ chuỗi cung ứng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Tại Lễ công bố Hàng Việt Nam chất lượng cao 2026 diễn ra vào ngày 31/3/2026, lãnh đạo TP.HCM đã gửi đi thông điệp đanh thép về một chương mới của hàng nội địa: không dừng lại ở việc vận động người dân ưu tiên dùng hàng Việt, mà phải buộc doanh nghiệp tự nâng mình lên những chuẩn mực toàn cầu để giữ vững sân nhà và vươn xa.
Việt Nam chuẩn bị bước vào giai đoạn mới trong chiến lược an ninh năng lượng khi xăng sinh học E10 bắt đầu được đẩy mạnh lưu thông trên thị trường. Đây là bước đi kế tiếp sau thành công của xăng E5 RON 92 nhằm hiện thực hóa các cam kết về giảm phát thải và bảo vệ môi trường.