Sau quyết định của Fed, dư địa nào cho chính sách tiền tệ trong nước?
(DNTO) - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, liệu lãi suất trong nước có tăng theo, đặc biệt trong bối cảnh nền lãi suất trong nước đã tương đối cao kể từ đầu năm.
Fed chính thức tăng lãi suất lần đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đưa lãi suất tham chiếu lên 3,75-4%. Một số ngân hàng trung ương lớn cũng điều chỉnh chính sách theo hướng thận trọng hơn, như Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tăng lãi suất chính sách thêm 25 điểm cơ bản, mức cao nhất kể từ năm 1995. Cách đây ít ngày, lần thứ 2 trong năm, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng điều chỉnh tăng lãi suất.
Tại Việt Nam, việc Fed tăng lãi suất thường có tác động đáng kể đến chính sách tiền tệ trong nước. Năm 2022, Fed tăng lãi suất tới 7 lần, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng tăng tổng cộng 200 điểm cơ bản đối với nhiều loại lãi suất. Theo đó, bối cảnh trên được cho đang tạo không ít áp lực cho chính sách tiền tệ trong nước, đặc biệt Việt Nam là nước có nền kinh tế mở với điểm tựa lớn nằm ở xuất khẩu và dòng vốn FDI.
Ảnh minh hoạ
Khoảng cách lãi suất và áp lực tỷ giá
Tính đến hết tháng 8, đà tăng của lãi suất huy động vẫn tiếp tục duy trì ở các kỳ hạn. Cụ thể, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại ở mức 8,4%, con số này đã tăng tới 259 điểm cơ bản so với đầu năm và đẩy mức lãi suất cho vay tăng theo. Trong khi đó, tỷ giá được duy trì hợp lý. Tỷ giá USD/VND liên ngân hàng đến cuối tháng 8 đã giảm 0,8% so với cuối tháng 7, qua đó đánh dấu tháng giảm thứ 4 liên tiếp.
Lãi suất, tỷ giá là những yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, được NHNN đặt mục tiêu điều hành linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Fed tăng lãi suất trong khi mặt bằng lãi suất VND chưa thay đổi tương ứng, chênh lệch lãi suất có lợi cho VND bị thu hẹp, qua đó tạo thêm áp lực lên tỷ giá và liệu điều này có thể khiến NHNN điều chỉnh mặt bằng lãi suất trong nước theo hướng tăng lên hay không?
Thực tế Việt Nam đang có mức tăng trưởng tốt trong tháng 8 với sự hỗ trợ từ lĩnh vực sản xuất, FDI, đầu tư công. Thanh khoản ngắn hạn cũng đã cải thiện. Lạm phát vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ.
Theo phân tích từ ACBS, "Bối cảnh trên tạo ra một ràng buộc chính sách mang tính bất đối xứng". Cụ thể, một mặt, tăng trưởng trong nước chưa tạo ra yêu cầu rõ ràng về việc phải tăng lãi suất. Mặt khác, áp lực từ chênh lệch lãi suất USD-VND và tỷ giá khiến dư địa để nới lỏng tiền tệ mạnh cũng bị hạn chế.
Theo đó, để giải quyết vấn đề chênh lệch lãi suất USD-VNĐ, áp lực lên tỷ giá, NHNN sẽ ưu tiên điều tiết thanh khoản và các biện pháp hỗ trợ truyền dẫn tín dụng có mục tiêu. Nếu đồng USD tiếp tục mạnh lên trong bối cảnh Fed tăng lãi suất, xu hướng này sẽ càng được củng cố. ACBS dự báo, việc thực hiện một chu kỳ cắt giảm mạnh lãi suất chính sách hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ là khó trong bối cảnh hiện tại.
Trong khi đó, chuyên viên phân tích Vũ Diệu Hà từ Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho biết, nguồn cung ngoại tệ, thanh khoản hệ thống, diễn biến lạm phát sẽ quyết định mức độ tác động đến tỷ giá và lãi suất trong bối cảnh Fed tiếp tục phát tín hiệu thắt chặt lãi suất.
Tỷ giá USD/VND tới cuối năm 2026 có thể đi ngang so với cuối 2025 nhờ sự hỗ trợ tích cực từ nguồn cung USD đến từ kiều hối, dòng vốn FDI giải ngân và nâng hạng thị trường vốn. Chênh lệch lãi suất VND-USD có xu hướng thu hẹp nhưng khả năng vẫn duy trì trạng thái dương.
Ngoài ra, lãi suất huy động có thể duy trì ở vùng hiện tại cho đến hết năm và kỳ vọng có thể giảm nhẹ nếu lạm phát được kiểm soát và NHNN sẽ có biện pháp hỗ trợ thanh khoản tích cực hơn.
Bài toán cân bằng của chính sách tiền tệ
Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế, một quốc gia không thể giữ cùng lúc cả ba yếu tố: dòng vốn tự do luân chuyển, tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ độc lập, mà phải chấp nhận đánh đổi ít nhất một trong ba. Và điều này càng trở nên đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam thực hiện tăng trưởng hai con số và dồn lực cho nền kinh tế.
Lãi suất trong nước tăng có thể làm chi phí vốn tăng thêm, ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên lãi suất USD cao hơn làm gia tăng sức hấp dẫn các tài sản định giá bằng USD, qua đó tạo áp lực lên tỷ giá và dòng vốn tại các thị trường mới nổi. Cân bằng giữa tỷ giá, thanh khoản và tăng trưởng, hỗ trợ tín dụng tiếp tục là bài toán quan trọng của nhà điều hành.
Tại phiên họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8 chiều ngày 6/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nhấn mạnh, trước những khó khăn, thách thức và rủi ro gia tăng, NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, bám sát diễn biến trong và ngoài nước. NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, sẵn sàng can thiệp khi cần thiết để ổn định thị trường ngoại tệ, đồng thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn.