Di cư không chỉ là câu chuyện của cảm xúc
(DNTO) - Di cư không chỉ là vấn đề của cảm xúc. Nó cần được nhìn nhận như một hiện tượng kinh tế - xã hội, một động lực tất yếu của phát triển và một bài test về quản lý cấu trúc đô thị.
Di cư không chỉ là vấn đề của cảm xúc...
Hôm nay đã chấm dứt một kỳ nghĩ lễ dài ngày. Dòng người về quê nghỉ lễ lại kéo nhau trở vào thành phố tiếp tục học tập, làm việc… bất chấp giao thông quá tải, chi phí đắt đỏ, áp lực mưu sinh đè nặng. Nó làm chúng ta nhớ lại hồi đại dịch Covid-19, xuất phát từ TP.HCM, hàng trăm nghìn người rời đô thị trong cuộc hồi hương “vĩ đại” với tâm thế về quê có rau ăn rau, có cháo ăn cháo… Nhưng rồi sau đó, hầu hết họ lại lặng lẽ quay trở lại chốn đô thành.
Di cư không chỉ là câu chuyện của cảm xúc. Ảnh: Internet
Để rồi, mỗi kỳ lễ tết những chiếc xe máy chở nặng hành lý, những gương mặt bám bụi đường, những ánh mắt mệt mỏi… đại diện cho những cảnh đời vất vả mưu sinh gồng gánh nhau về quê lại làm người ta chạnh lòng. Nơi chôn nhau cắt rốn được nhắc đến bằng sự giằng xé, dùng dằng nửa ở nửa đi, bằng những ký ức về một thuở hàn vi, ấm lạnh… Người ta chạnh lòng nghĩ đến những cảnh đời tha hương, những phận người vì cuộc mưu sinh mà phải từ bỏ quê cha đất tổ, chia biệt người thân. Trong đó có cả những người một bước ly hương là rời xa mãi mãi…
Tuy nhiên, vấn đề dân di cư không chỉ là vấn đề của cảm xúc. Nó cần được nhìn nhận như một hiện tượng kinh tế - xã hội, một động lực tất yếu của phát triển và một bài test về quản lý cấu trúc đô thị.
... mà là một hiện tượng kinh tế – xã hội
Trước hết, di cư giải quyết được vấn đề chênh lệch phát triển giữa các vùng miền: Chênh lệch cơ hội việc làm, chênh lệch về thu nhập và chênh lệch về chất lượng sống bao gồm giáo dục, y tế, hạ tầng đô thị… Đây cũng là “lực hút” mạnh mẽ của đô thị.
Đồng thời với giải quyết được vấn đề “chênh lệch”, di cư còn tác động sâu sắc đến cơ cấu dân số, việc làm, cũng như an sinh xã hội. Nó tạo thành hai mặt thống nhất của một vấn đề. Đó là di cư vừa tạo cơ hội phát triển kinh tế (nguồn lao động) vừa tạo thách thức xã hội (nhà ở, y tế, giáo dục) buộc chính phủ sở tại phải giải đáp bài toán về quản lý cấu trúc đô thị.
Nói cách khác, di cư chính là cơ chế phân bổ lại nguồn lực lao động trong nền kinh tế. Nếu không có dòng người di cư, đô thị sẽ thiếu lao động; ngược lại, nông thôn sẽ thiếu cơ hội chuyển dịch cơ cấu.
Thực tế cho thấy di cư là quy luật phổ biến trong quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa, dòng dịch chuyển lao động từ nông thôn ra đô thị luôn đi song hành với tăng trưởng kinh tế.
Di cư, một động lực tất yếu của phát triển đô thị
Từ góc nhìn cảm xúc, người nhập cư thường bị gắn với áp lực: kẹt xe, nhà trọ chật chội, hạ tầng quá tải… Nhưng xét theo quy luật, họ chính là “động cơ thầm lặng”, là “nhiên liệu”, là lực đẩy quan trọng cho sự tăng trưởng của đô thị.
Tại TP.HCM, phần lớn lực lượng lao động trong các ngành sản xuất, sản xuất công nghiệp, xây dựng, kinh tế phi chính thức cũng như dịch vụ đều đến từ các tỉnh. Họ là những người vận hành những mắt xích nhỏ nhất nhưng không thể thiếu của nền kinh tế đô thị.
Người lao động di cư, một nguồn năng lượng kinh tế đặc biệt giúp đô thị vận hành liên tục. Ảnh: Internet
Thực tế còn cho thấy, người nhập cư thường có xu hướng làm việc nhiều giờ hơn, chấp nhận thách thức, rủi ro cao hơn, thậm chí chấp nhận mức thù lao thấp hơn… Họ lấp vào những vị trí mà lao động tại chỗ không đủ hoặc không muốn làm. Điều này khiến họ trở thành một nguồn năng lượng kinh tế đặc biệt giúp đô thị vận hành liên tục. Nói không ngoa, thiếu lực lượng này, thành phố có khi sẽ bị “tê liệt”.
Mặt khác, không chỉ tạo ra dòng chuyển tiền về các vùng nông thôn góp phần giảm nghèo và thay đổi diện mạo quê hương, người lao động nhập cư còn là lực lượng đáng kể thúc đẩy tiêu dùng tại chỗ với việc thuê trọ, ăn uống, đi lại, sử dụng dịch vụ y tế, giáo dục, tham gia vào thị trường bán lẻ.
Không kể sự pha trộn văn hóa đa dạng vùng miền còn làm cho đô thị trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn, đa sắc màu hơn.
Di cư, một bài test về quản lý cấu trúc đô thị
Vấn đề nhập cư là một bài toán nan giải về quản lý cấu trúc đô thị của tất cả các thành phố lớn. Để giải bài toán này, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định 263/QĐ-TTg đã đặt nền tảng cho chuyển dịch kinh tế tại chỗ. Không chỉ là hạ tầng, chương trình hướng đến đưa công nghiệp và dịch vụ về nông thôn, hình thành các khu công nghiệp, cụm sản xuất, tạo việc làm ngay tại địa phương.
Song song với đó, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg giúp người lao động có kỹ năng để chuyển đổi việc làm ngay tại nơi sinh sống mà không phải rời quê.
Các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 57/2018/NĐ-CP cũng góp phần tạo ra nhiều việc làm tại chỗ. Doanh nghiệp không chỉ mang đến nguồn vốn mà còn kéo theo dịch vụ, tiện ích, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn.
Người lao động nhập cư còn là lực lượng đáng kể thúc đẩy tiêu dùng tại chỗ. Ảnh: Internet
Đồng thời với nhà ở giá rẻ và nhà ở xã hội, cuộc “cách mạng” về không gian công cộng vừa rồi tại TP.HCM, cùng với chiến lược giãn dân và tạo cực tăng trưởng mới (2026-2045)… vấn đề di cư sẽ là bài kiểm tra năng lực quản trị đô thị, đặc biệt với một thành phố còn non trẻ như TP.HCM.
Người từ các tỉnh di cư vào các đô thị lớn để học tập và làm việc không chỉ xảy ra ở Việt Nam, đặc biệt là ở TP.HCM - nơi có tỷ lệ dân số cơ học cao gấp đôi tự nhiên (2015-2021), mà nó là xu hướng chung, phổ biến và mang tính tất yếu tại hầu hết các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Chẳng hạn như Thâm Quyến - một làng chài nhỏ của Trung Quốc - trở thành trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới nhờ thu hút lao động nhập cư và doanh nghiệp; Hay Bangalore, nơi được mệnh danh là “Thung lũng Silicon của Ấn Độ”, cũng phát triển dựa trên dòng người trẻ từ khắp nơi đổ về. Hoặc vùng đô thị Manila ở Philippines, các trung tâm kinh tế lớn như São Paulo và Rio de Janeiro của Brazil… cũng là các nơi phát triển nhờ vào dân lao động di cư.
TP. HCM cũng đang vận hành theo logic tương tự.