Hàng ngàn nông sản Việt phải có ‘tấm vé thông hành’ mới khi bước vào thị trường Trung Quốc
(DNTO) - Chuẩn hóa vùng trồng, minh bạch dữ liệu và kiểm soát chất lượng đang trở thành điều kiện bắt buộc để nông sản Việt giữ vững thị phần tại thị trường hơn 1,4 tỷ dân.
Hiện có tới 90% lượng xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc. Ảnh minh họa
Từ ngày 1/6, Nghị định 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) chính thức có hiệu lực, thay thế Lệnh 248 trước đây, siết chặt quản lý đối với cơ sở sản xuất thực phẩm nước ngoài xuất khẩu vào thị trường này. Quy định mới của Trung Quốc tác động không nhỏ đối với việc xuất khẩu nông sản, thực phẩm của Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, Trung Quốc luôn là thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất của Việt Nam. Các mặt hàng như sầu riêng, thanh long, chuối, mít, gạo, thủy sản hay cà phê đều có kim ngạch xuất khẩu lớn vào thị trường này. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 4 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc chiếm 21,1% tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản của Việt Nam với giá trị hơn 4,86 tỉ USD, tăng gần 29% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, cùng với xu hướng nâng cao tiêu chuẩn nhập khẩu, Trung Quốc không còn là thị trường “dễ tính” như trước.
Bước ngoặt lớn nhất đến từ việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc ban hành Lệnh 248 và Lệnh 249, có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. Hai quy định này yêu cầu tất cả doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu thực phẩm vào Trung Quốc phải đăng ký mã số với GACC và đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bao bì và nhãn mác.
Theo quy định mới, doanh nghiệp xuất khẩu phải có mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhật ký sản xuất, hồ sơ kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và hệ thống truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Mọi thông tin đều phải đồng nhất từ khâu sản xuất đến vận chuyển và thông quan. Đặc biệt, mã GACC bắt buộc phải in trên bao bì sản phẩm xuất khẩu.
Không chỉ dừng ở đó, từ ngày 1/6/2026, Trung Quốc tiếp tục áp dụng Nghị định 280 thay thế một phần quy định cũ, tăng cường quản lý đối với doanh nghiệp thực phẩm nước ngoài. Quy định mới được đánh giá là “hàng rào kỹ thuật” mới nhằm kiểm soát chặt chất lượng hàng nhập khẩu.
Theo thông báo của GACC, hiện có 2.589 sản phẩm thuộc 20 nhóm ngành hàng phải thực hiện đăng ký doanh nghiệp trước khi xuất khẩu vào Trung Quốc. Danh mục bao gồm thủy sản, trái cây tươi, rau tươi, cà phê, gia vị, ngũ cốc, thức ăn chăn nuôi, cây giống, dược liệu và nhiều sản phẩm mà Trung Quốc luôn là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam đạt 70 tỷ USD thì riêng thị trường Trung Quốc chiếm 25%. Nhiều mặt hàng như thủy sản, rau quả, hạt điều, sắn, cao su, gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đều đạt trên 1 tỷ USD.
Riêng sầu riêng, có tới 90% lượng xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc. Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xuất khẩu rau quả 3 tháng đầu năm 2025 đã giảm hơn 11% so với tháng trước, trong đó sầu riêng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Trước sức ép này, Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp để đáp ứng yêu cầu của thị trường Trung Quốc. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương đã tăng tốc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, đồng thời siết kiểm tra quy trình canh tác. Nhiều doanh nghiệp cũng đầu tư hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng QR Code, số hóa nhật ký sản xuất và kiểm nghiệm dư lượng hóa chất trước khi xuất khẩu.
Ngoài ra, việc chuyển mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch cũng được xem là bước đi bắt buộc. Nếu trước đây nông sản Việt chủ yếu dựa vào thương lái và giao dịch biên mậu, thì nay Trung Quốc yêu cầu hàng hóa phải đi theo hợp đồng chính thức, có đầy đủ hồ sơ kiểm dịch và chứng nhận chất lượng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua, công tác truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và minh bạch chuỗi cung ứng nông sản được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản tiêu dùng tại Việt Nam và xuất khẩu.
Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam đã xây dựng và vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu. Việc sử dụng Hệ thống truy xuất nguồn gốc này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi sản xuất, đóng gói, vận chuyển và góp phần bảo đảm chất lượng hàng hóa tiêu dùng tại Việt Nam và xuất khẩu.
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam đang hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, chuẩn hóa dữ liệu, giải pháp nhận diện điện tử và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan nhằm mở rộng triển khai truy xuất nguồn gốc đối với các loại nông sản khác tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu.
Qua công hàm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi GACC thông tin về Hệ thống truy xuất nông sản của Việt Nam và một số mẫu tem nhận diện phục vụ truy xuất nguồn gốc các sản phẩm nông sản tiêu dùng tại Việt Nam và xuất khẩu. Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam sẽ đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tem nhận diện phục vụ truy xuất nguồn gốc các sản phẩm nông sản và sẽ cung cấp thông tin đến GACC.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cảm ơn GACC thời gian qua đã hỗ trợ việc phê duyệt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và phòng thử nghiệm, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại nông lâm thủy sản giữa hai nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong muốn, GACC sớm phê duyệt các danh sách và hồ sơ kỹ thuật liên quan đến các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc.
Như vậy, để tiếp cận thị trường Trung Quốc hiệu quả hơn trong thời gian tới, giới chuyên môn nhận định Việt Nam cần tập trung vào ba yếu tố cốt lõi gồm chuẩn hóa vùng trồng, nâng cao chất lượng chế biến và xây dựng thương hiệu nông sản. Trong đó, yếu tố minh bạch dữ liệu sản xuất được xem là chìa khóa quan trọng nhất.
Trong bối cảnh Trung Quốc liên tục nâng tiêu chuẩn nhập khẩu, việc đáp ứng các quy định truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp nông sản Việt duy trì thị phần mà còn tạo cơ hội nâng cấp toàn bộ chuỗi sản xuất theo hướng hiện đại, bền vững và có giá trị cao hơn.