Để người khuyết tật trở thành chủ thể kinh tế
(DNTO) - Chỉ 23,5% người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc, trong khi tỷ lệ này ở người không khuyết tật là 76,3%. Khoảng cách hơn 50 điểm phần trăm cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở sức khỏe hay khả năng lao động, mà còn ở cách thị trường đào tạo, tuyển dụng và tổ chức việc làm.
Tại Kymviet, những nghệ nhân khiếm thính làm ra các sản phẩm thủ công để đưa ra thị trường. Ở Journey of the Senses, người khiếm thị, người khiếm thính và các nhóm lao động đa dạng cùng tham gia vận hành một mô hình dịch vụ ẩm thực. Hay tại Nghị Lực Sống, người khuyết tật được đào tạo và tham gia vào các công việc như xử lý hình ảnh, nhập liệu và dịch vụ số, tạo thêm cơ hội việc làm bền vững.
Những mô hình này thường được kể như các câu chuyện truyền cảm hứng. Nhưng phía sau đó còn là một câu hỏi kinh tế: Vì sao những trường hợp như vậy vẫn được coi là đặc biệt, thay vì trở thành một phần bình thường của thị trường lao động?
Các mô hình được Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) giới thiệu cho thấy người khuyết tật có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ và tạo giá trị cho khách hàng khi công việc được tổ chức phù hợp. Họ không chỉ là đối tượng nhận hỗ trợ, mà có thể là người lao động, nghệ nhân, nhà quản lý và chủ thể kinh doanh.
Mô hình tạo sinh kế cho người khuyết tật
Khoảng cách hình thành trước khi người khuyết tật đi xin việc
Theo Điều tra người khuyết tật năm 2023 do Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) thực hiện, người khuyết tật chiếm 6,11% dân số từ 2 tuổi trở lên tại Việt Nam. Tỷ lệ tại khu vực nông thôn là 6,89%, cao hơn mức 4,78% ở thành thị. Điều này đồng nghĩa phần lớn bài toán việc làm cho người khuyết tật không chỉ diễn ra trong các văn phòng, nhà máy lớn hay trung tâm đô thị. Nó còn nằm ở những địa bàn mà cơ hội đào tạo, giao thông và dịch vụ hỗ trợ vốn đã hạn chế.
Khoảng cách lao động bắt đầu từ khá sớm. Năm 2023, chỉ 8,8% người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên từng được đào tạo nghề. Tỷ lệ tương ứng ở người không khuyết tật là 25,4%. Dù đã tăng 1,5 điểm phần trăm so với năm 2016, khả năng tiếp cận đào tạo nghề của người khuyết tật vẫn chỉ bằng khoảng một phần ba nhóm còn lại.
Sau đào tạo là khoảng cách tham gia thị trường lao động. Tỷ lệ người khuyết tật tham gia lực lượng lao động năm 2023 là 23,9%, thấp hơn 53,5 điểm phần trăm so với người không khuyết tật. Trong nhóm tuổi 18-40, khi phần lớn người lao động đang ở giai đoạn tích lũy nghề nghiệp và thu nhập, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật là 38,6%, trong khi người không khuyết tật đạt 89,4%.
Khoảng cách tương tự xuất hiện ở số người thực sự có việc làm. Chỉ 23,5% người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế, so với 76,3% ở người không khuyết tật. Chênh lệch đã tăng từ 50,7 điểm phần trăm năm 2016 lên 52,8 điểm phần trăm năm 2023.
Những con số này gợi ra một thực tế: nhiều người khuyết tật không xuất hiện trong thống kê thất nghiệp đơn thuần, bởi họ chưa từng bước vào hoặc đã rời khỏi lực lượng lao động.
Họ không nhất thiết đang đi tìm việc và bị từ chối mỗi ngày. Không ít người đã không còn tìm kiếm, do thiếu kỹ năng, khó di chuyển, không biết tiếp cận thông tin tuyển dụng hoặc cho rằng doanh nghiệp sẽ không nhận mình.
Vì thế, bài toán không chỉ là tạo thêm vị trí tuyển dụng. Trước đó còn phải tạo ra khả năng để người lao động có thể nhìn thấy, tiếp cận và theo đuổi vị trí ấy.
Một công việc “phù hợp” không nên là một chiếc hộp
Khi nói về việc làm cho người khuyết tật, thị trường thường tập trung vào một số nhóm nghề được xem là an toàn hoặc quen thuộc. Nhưng khuyết tật không phải một trạng thái đồng nhất.
Một người khiếm thính có nhu cầu hỗ trợ khác người khuyết tật vận động. Người khiếm thị cần công cụ làm việc khác người có khó khăn về nhận thức. Ngay cả hai người có cùng dạng khuyết tật cũng có thể có trình độ, kinh nghiệm và khả năng thích nghi hoàn toàn khác nhau.
Điều tra năm 2023 cho thấy tỷ lệ có việc làm thay đổi rất mạnh giữa các loại khuyết tật. Một số nhóm có tỷ lệ làm việc tương đối cao hơn, trong khi tỷ lệ ở những người gặp khó khăn về thị giác, giao tiếp, vận động thân trên hoặc vấn đề thần kinh, tâm thần có thể ở mức 10% hoặc thấp hơn.
Do đó, “việc làm phù hợp” không nên được hiểu là gom tất cả người khuyết tật vào một số nghề cố định. Cách tiếp cận hiệu quả hơn là phân tích từng công việc thành các nhiệm vụ cụ thể, sau đó xác định người lao động cần điều chỉnh điều gì để thực hiện được nhiệm vụ đó.
Sự điều chỉnh đôi khi là một đường dốc, nhà vệ sinh tiếp cận được hoặc bàn làm việc phù hợp. Trong những trường hợp khác, đó có thể là phần mềm đọc màn hình, tài liệu có phụ đề, giờ làm linh hoạt, hướng dẫn công việc bằng hình ảnh hoặc sự hỗ trợ của một người hướng dẫn trong giai đoạn đầu.
Các nghiên cứu được Ngân hàng Thế giới tổng hợp cho rằng điều chỉnh nơi làm việc, tư vấn nghề nghiệp, thay đổi thời gian và cách tổ chức công việc có thể cải thiện cơ hội việc làm. Với một số nhóm, mô hình việc làm có hỗ trợ và người hướng dẫn việc làm còn quan trọng hơn một khóa đào tạo ngắn hạn.
Nhìn theo hướng này, rào cản không hoàn toàn nằm trong cơ thể người lao động. Nó còn nằm trong cách công việc được thiết kế.
Một cầu thang có thể biến một người sử dụng xe lăn thành người “không thể đến làm việc”. Một phần mềm không tương thích với công cụ đọc màn hình có thể khiến một người khiếm thị trở thành ứng viên “không đáp ứng yêu cầu”. Khi môi trường thay đổi, đánh giá về khả năng lao động cũng có thể thay đổi theo.
Chuyển đổi số mở ra cơ hội, nhưng không tự động tạo ra hòa nhập
Làm việc từ xa, bán hàng trực tuyến, chăm sóc khách hàng, thiết kế, nhập liệu và cung cấp dịch vụ số được xem là những hướng đi mới cho người gặp khó khăn trong di chuyển.
Mô hình livestream bán hàng dành cho người khuyết tật.
Tuy nhiên, cơ hội số chỉ có ý nghĩa khi người lao động có thiết bị, kết nối và kỹ năng. Năm 2023, tỷ lệ người khuyết tật truy cập Internet đạt 33,6%, tăng mạnh so với mức 6,7% của năm 2016. Nhưng tỷ lệ này ở người không khuyết tật đã đạt 83,7%. Tại nông thôn, chỉ 31% người khuyết tật truy cập Internet, thấp hơn mức 40,1% ở thành thị.
Như vậy, chuyển đổi số có thể phá bỏ rào cản địa lý, nhưng cũng có thể tạo thêm một tầng phân hóa mới. Khi các trung tâm việc làm chuyển sang đăng tuyển trực tuyến, các khóa đào tạo được đưa lên nền tảng số và doanh nghiệp sử dụng phần mềm tự động sàng lọc hồ sơ, người không có thiết bị hoặc kỹ năng tiếp cận sẽ tiếp tục bị loại ra ngoài. Quá trình này diễn ra âm thầm hơn một lời từ chối tại buổi phỏng vấn, nhưng tác động không nhỏ hơn.
Đầu tư cho việc làm số của người yếu thế vì vậy không thể dừng ở một lớp dạy bán hàng trên mạng. Nó phải bao gồm thiết bị trợ giúp, đường truyền, kỹ năng số căn bản, khả năng bảo vệ dữ liệu, kỹ năng giao tiếp với khách hàng và một kênh tiêu thụ sản phẩm đủ ổn định.
Nếu không có thị trường đầu ra, người học có thể hoàn thành khóa đào tạo nhưng vẫn không tạo được thu nhập.
Vì sao doanh nghiệp vẫn dè dặt?
Với doanh nghiệp, tuyển dụng người khuyết tật thường đi kèm một số câu hỏi rất thực tế: Năng suất sẽ được đánh giá như thế nào? Chi phí cải tạo nơi làm việc bao nhiêu? Ai hướng dẫn nhân sự mới? Doanh nghiệp phải xử lý ra sao khi xảy ra sự cố về sức khỏe hoặc an toàn lao động?
Sự dè dặt này không phải lúc nào cũng xuất phát từ định kiến. Một phần đến từ việc doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiếu thông tin và thiếu người hỗ trợ thiết kế vị trí việc làm.
Nhưng định kiến vẫn tồn tại. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới ghi nhận người khuyết tật có thể gặp thái độ tiêu cực từ người sử dụng lao động, gia đình và xã hội; khó tiếp cận giao thông, thông tin, dịch vụ y tế và những điều chỉnh cần thiết tại nơi làm việc. Những rào cản này kết hợp với nhau, khiến một người có chuyên môn vẫn có thể không vượt qua được cửa tuyển dụng.
Vấn đề của thị trường hiện nay là phần lớn chi phí và rủi ro ban đầu đang được đặt lên một phía. Doanh nghiệp phải tự tìm ứng viên, đánh giá dạng hỗ trợ, cải tạo môi trường, hướng dẫn người lao động và xử lý các thủ tục liên quan. Người lao động lại phải tự chứng minh rằng mình có thể làm việc, tự tìm công cụ hỗ trợ và tự thích nghi với một môi trường vốn không được thiết kế cho mình.
Ở giữa hai bên còn thiếu một lớp dịch vụ trung gian đủ chuyên nghiệp: đơn vị đánh giá năng lực, thiết kế công việc, huấn luyện tại chỗ và theo dõi sau tuyển dụng. Một hội chợ việc làm kéo dài một ngày có thể tạo ra các cuộc gặp. Nhưng để tạo ra một quan hệ lao động kéo dài nhiều năm, doanh nghiệp và người lao động cần được đồng hành lâu hơn.
Chính sách đã thay đổi
Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm năm 2025 chính thức có hiệu lực. Luật xác định phân biệt đối xử dựa trên khuyết tật làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm là hành vi phân biệt đối xử; đồng thời quy định người khuyết tật, người chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng và cơ sở kinh doanh sử dụng nhiều lao động yếu thế được tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn. Người khuyết tật cũng thuộc nhóm được ưu tiên tham gia việc làm công.
Nghị định 338/2025 nâng mức vay hỗ trợ tạo, duy trì và mở rộng việc làm lên tối đa 200 triệu đồng đối với một người lao động. Cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể vay tối đa 10 tỷ đồng, nhưng không quá 200 triệu đồng cho mỗi lao động được hỗ trợ. Người khuyết tật và cơ sở sử dụng nhiều lao động thuộc các nhóm yếu thế được áp dụng mức lãi suất thấp hơn.
Một ưu đãi khác nằm ở bảo hiểm thất nghiệp. Doanh nghiệp tuyển mới người lao động khuyết tật được giảm phần đóng bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động từ 1% xuống 0% trong thời gian người lao động làm việc, tối đa 12 tháng đầu kể từ khi tuyển dụng.
Đây là những thay đổi đáng kể, cho thấy chính sách đang chuyển dần từ trợ giúp xã hội sang hỗ trợ tham gia kinh tế. Tuy nhiên, ưu đãi tài chính chủ yếu giải quyết chi phí ở thời điểm tuyển dụng hoặc khởi sự kinh doanh. Chúng chưa tự động giải quyết được vấn đề đào tạo không phù hợp, thiếu đơn hàng, khó tiếp cận khách hàng, hạ tầng không thuận tiện và tâm lý e ngại trong nội bộ doanh nghiệp.
Một khoản vay có thể giúp mua máy móc, nhưng không bảo đảm sản phẩm bán được. Giảm chi phí bảo hiểm trong 12 tháng có thể khiến doanh nghiệp cân nhắc tuyển dụng, nhưng chưa chắc đủ để họ thiết kế lại quy trình làm việc hoặc bố trí người hướng dẫn.
Vì thế, hiệu quả của chính sách không nên chỉ được đo bằng tổng số vốn giải ngân hay số người tham dự các khóa học. Cần theo dõi người được hỗ trợ có tạo được thu nhập hay không, thu nhập duy trì trong bao lâu, công việc có hợp đồng hay không và người lao động có cơ hội phát triển nghề nghiệp hay chỉ dừng ở một vị trí giản đơn.
Từ hỗ trợ sinh kế sang tạo năng lực kinh tế
“Làm kinh tế” đối với người khuyết tật và người yếu thế không chỉ có nghĩa là tìm cho mỗi người một công việc. Đó còn là khả năng tự tạo việc làm, lập hộ kinh doanh, tham gia hợp tác xã, trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp lớn hoặc bán sản phẩm trên thị trường mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào lòng hảo tâm của người mua.
Muốn vậy, hỗ trợ phải đi theo chuỗi. Đào tạo cần bắt đầu từ nhu cầu thị trường thay vì từ ngành nghề mà đơn vị tổ chức sẵn có. Tín dụng phải gắn với tư vấn mô hình kinh doanh và đầu ra. Dịch vụ việc làm phải có khả năng đánh giá từng người, thay vì chỉ ghép một dạng khuyết tật với một danh sách nghề mặc định.
Với doanh nghiệp, chính sách khuyến khích cũng cần vượt ra ngoài ưu đãi tuyển dụng. Có thể cân nhắc các chương trình hỗ trợ chi phí điều chỉnh nơi làm việc, huấn luyện người quản lý trực tiếp và phát triển mạng lưới nhà cung cấp do người khuyết tật hoặc nhóm yếu thế làm chủ.
Hoạt động mua sắm cũng có thể trở thành một công cụ tạo thị trường. Khi cơ quan, tập đoàn hoặc doanh nghiệp lớn dành một phần đơn hàng phù hợp cho các doanh nghiệp hòa nhập đáp ứng tiêu chuẩn, hỗ trợ xã hội sẽ được chuyển thành quan hệ kinh tế có sản phẩm, chất lượng, hợp đồng và trách nhiệm rõ ràng.
Các mô hình hạn ngạch tuyển dụng hoặc ưu tiên nhà cung cấp có thể tạo thêm nhu cầu lao động, nhưng kinh nghiệm quốc tế cho thấy nếu chỉ chạy theo số lượng, chính sách có thể bỏ qua chất lượng việc làm và khả năng thăng tiến. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là đưa một người vào danh sách nhân sự, mà là tạo ra một công việc có thu nhập, điều kiện lao động phù hợp và con đường phát triển.
Điều này cũng đúng với những nhóm yếu thế khác. Người dân tộc thiểu số có thể gặp rào cản về địa lý và ngôn ngữ. Người đã chấp hành xong án phạt tù có thể chịu định kiến về quá khứ. Người chăm sóc thành viên khuyết tật đặc biệt nặng bị hạn chế về thời gian. Lao động cao tuổi cần được đào tạo lại để thích ứng với công nghệ.
Họ đều cần việc làm, nhưng không cần cùng một loại hỗ trợ. Chính sách hòa nhập hiệu quả không phải là đối xử với tất cả mọi người giống nhau. Đó là tạo ra những điều kiện khác nhau để mọi người có cơ hội tham gia thị trường một cách bình đẳng.
Khi một người khuyết tật có việc làm ổn định, tác động không dừng ở khoản lương hàng tháng. Gia đình có thể giảm gánh nặng chăm sóc, người lao động có thêm quyền quyết định đối với cuộc sống và xã hội có thêm một người tạo ra sản phẩm, dịch vụ và đóng góp kinh tế.
Vấn đề vì thế không còn là xã hội có thể dành bao nhiêu nguồn lực để “giúp” người yếu thế. Câu hỏi quan trọng hơn là nền kinh tế đang bỏ lỡ bao nhiêu năng lực lao động, sáng tạo và kinh doanh chỉ vì thị trường chưa được thiết kế để tất cả mọi người có thể bước vào.