‘Cho nhiêu cho’
(DNTO) - Có lẽ bây giờ ít còn ai sử dụng cụm từ ‘Cho nhiêu cho’ để trao đổi, định giá một món hàng hay dùng tính công phục vụ. Kinh doanh hiện đại cần sự chuyên nghiệp hóa: Minh bạch, sòng phẳng, chính xác và công bằng, điều đó có làm cho tinh thần này mất đi?
“Cho nhiêu cho!”. Với người dân Nam bộ, cụm từ này từng rất quen thuộc. Từng có thời, trong giao dịch mua bán hoặc tính công lao động thường ngày, nhiều trường hợp người ta không trao quyền định giá cho thị trường, mà trao nó cho mối quan hệ giữa con người với nhau bằng câu nói “cho nhiêu cho”.
Vì sao kiểu ứng xử ấy tồn tại ở Nam bộ
Vùng đất Nam bộ vốn được hình thành bởi các cộng đồng di dân đi khai phá vùng đất mới. Để sinh tồn giữa vùng đất hoang hóa mênh mông, đối phó với rừng thiêng, nước độc và thú dữ, con người phải nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau để sinh tồn.
Kinh tế thị trường không làm cho tinh thần “Cho nhiêu cho” hoàn toàn mất đi. Ảnh: Internet
Các nghiên cứu của PGS.TS Phan An (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ) về làng xã và cộng đồng cư dân Nam bộ chỉ ra: đặc điểm của quan hệ cộng cư ở đây khá mạnh và bình đẳng. Thể hiện qua quan hệ láng giềng trong cuộc sống và tập quán đổi công, vần công trong sản xuất.
Việc trao đổi hàng hóa của họ đôi khi chỉ là để chia sẻ phần “ăn không hết” những món sản vật tự nuôi trồng hoặc đánh bắt. Bán nhắm bán mớ, vừa bán vừa cho, mua thiếu chịu hoặc cho nhiêu cho là kiểu “giao dịch thương mại” tình làng nghĩa xóm của họ. Tất nhiên không có căn cứ nào chắc chắc để khẳng định, điều kiện ấy sinh ra cụm từ “cho nhiêu cho”. Nhưng có thể những đặc điểm kinh tế – xã hội trên là môi trường giúp cho kiểu ứng xử ấy tồn tại.
Kinh tế thị trường không làm mất đi tinh thần “Cho nhiêu cho!”
Nền kinh tế hiện đại dần hình thành. Người bán phải tính chi phí nguyên liệu, công lao động, vận chuyển, mặt bằng, thuế, lợi nhuận... Người mua cũng cần biết mình phải trả bao nhiêu là đúng, là "phải đạo". Họ cần giá cả rõ ràng.
Dịch vụ càng chuyên nghiệp càng phải định lượng: bao nhiêu tiền một giờ, một kilômét, một kilogram, một lần phục vụ. Các dịch vụ hiện nay công khai bảng giá, phí và điều kiện thanh toán chính là biểu hiện rất bình thường của quá trình chuẩn hóa đó.
Khi xã hội chuyển từ những cộng đồng quen biết sang một xã hội mà phần lớn giao dịch diễn ra giữa những người xa lạ, giá cả minh bạch chính là thứ bảo vệ cả hai bên. Người bán không phải trông chờ sự “hào phóng” của người mua. Người lao động không còn nói “cho nhiêu cho” phó mặc cho may rủi. Người mua cũng không phải đoán xem mình trả bao nhiêu để “coi cho được” mà không bị “hớ”. Giá niêm yết, theo nghĩa ấy, cũng là một bước tiến của sự công bằng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường ngày càng định giá chính xác mọi thứ, tinh thần “Cho nhiêu cho” không vì thế mà hoàn toàn mất đi. Nó chỉ thể hiện bằng một hình thức khác phù hợp hơn với nhịp sống hiện đại. Đó là những thùng trà đá miễn phí trên đường phố, những quán cơm xã hội 2.000 đồng, những buổi cắt tóc, khám chữa bệnh từ thiện, những thùng tiền công đức trong bệnh viện hay những chuyến xe từ thiện chở bệnh nhân nghèo…