Giải pháp công nghệ và hạ tầng số trong quản lý, bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan
(DNTO) - Nhằm giải quyết triệt để các thách thức trên môi trường số, việc tích hợp các công nghệ tiên tiến như Blockchain, AI, VNeID và hợp đồng thông minh sẽ hình thành nên một hệ sinh thái bản quyền số minh bạch, an toàn và đáng tin cậy.
Xét về góc độ quản lý Nhà nước, việc xây dựng dữ liệu bản quyền gắn với các lớp quyền thuộc nhiệm vụ của Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch và trực tiếp bởi Cục Bản Quyền tác giả. Tuy nhiên với đặc thù quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm đó được thể hiện dưới hình dạng vật chất cụ thể mà không cần phải đăng ký giống các loại quyền về Sở hữu công nghiệp trong Luật SHTT. Điều này tạo ra nhiều khó khăn trong việc xác định công nghệ ghi nhận so khớp các lớp quyền và xử lý tranh chấp về quyền tác giả quyền liên quan trong môi trường số. Bởi lẽ không phải tác giả nào cũng ý thức mang tác phẩm của mình đi đăng ký công bố với một cơ quan nhà nước mà bản thân họ chủ động lưu trữ và ghi nhận theo phương thức khác nhau trên môi trường số. Nếu công nghệ áp dụng của các tổ chức, Trung tâm ghi nhận công bố đăng ký tác quyền không phù hợp hay thuận tiện thì việc tập hợp ghi nhận và xác định quyền tác giả của các chủ thể sáng tạo trên môi trường số trở thành gánh nặng, trở ngại đối với quá trình sáng tạo và bảo bộ quyền tác giả, quyền liên quan.
Vấn đề sở hữu mang tính dân sự và tự động này tạo ra góc nhìn khác nhau về cách thức quản lý và trách nhiệm ứng dụng công nghệ trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý khai thác quyền tác giả quyền liên quan. Các quốc gia theo phân tích trên đều có cách tiếp cận khác nhau về mô hình quản lý, tuy nhiên điểm then chốt là dù chọn mô hình nào đi nữa thì các quốc gia phát triển đều giải quyết được 3 vấn đề cốt lõi bằng sự kết hợp giữa chính sách và công nghệ ứng dụng: Vấn đề về định danh quyền tác giả quyền liên quan đối với lớp quyền gốc; Vấn đề xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu và mã hóa dữ liệu phục vụ kết nối, truy xuất và đối soát phục vụ phân phối quyền tác giả trên không gian mạng và các quyền khác diễn ra trên môi trường thực; Tiêu chuẩn chứng cứ số và xác thực chứng cứ vi phạm mà các nền tảng thừa nhận và tôn trọng theo chuẩn chung.
Hinh minh họa
Định danh quyền tác giả, quyền liên quan đối với lớp quyền gốc.
Luật Công nghiệp công nghệ số Việt Nam… và luật giao dịch điện tử đã xây dựng các nghĩa vụ đối với các sản phẩm công nghệ cũng như tài sản số trên không gian mạng. Theo đó đây là cơ sở ban đầu cho việc quản lý giao dịch và xác định chủ sở hữu trên không gian mạng qua các nền tảng. Điều xuất phát bắt đầu cũng từ việc định danh toàn bộ đối tượng trong hệ sinh thái số gắn với con người, tổ chức phù hợp với chiến lược số hóa, chuyển đổi số và quản lý dữ liệu chia sẻ tập trung của Nghị Quyết 57/TW. Cụ thể hóa vấn đề này một cách nhanh chóng, dự thảo Luật định danh và dự thảo Luật phát triển Công nghiệp Văn hóa cũng cùng lúc được đưa ra xin ý kiến. Theo đó khung pháp lý đầu tiên cho việc định danh quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đã được đặt ra. Tuy nhiên góc độ công nghệ áp dụng trong triển khai nhiệm vụ định danh này mới chỉ có tiêu chuẩn dữ liệu định danh được mô tả trong Thông tư số 08/2025/TT-BCA về chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với cấu trúc thông điệp dữ liệu trao đổi với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. Trong lĩnh vực quyền tác giả, dữ liệu về quyền tác giả theo thông lệ quốc tế và Công ước Berne về bảo hộ ghi nhận quyền tác giả không bắt buộc gắn tài sản trí tuệ, tác phẩm với mã định danh mà chỉ cần khai báo dưới tên tác giả, chủ sở hữu tự lựa chọn và chịu trách nhiệm. Đây có thể là phương thức tôn trọng nguyên tắc tôn trọng quyền nhân thân của tác giả đối với việc: công bố, đặt tên hay bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm. Tuy nhiên dưới góc độ ứng dụng công nghệ trong quản khai báo quyền này, các quốc gia vẫn ứng dụng các công nghệ khác nhau về khai báo định danh gắn mã với quyền tác giả. Đặc biệt hiện tại công nghệ Blockchain được ưu tiên và gần như phổ biến song hành cùng với công nghệ gắn mã tập trung trong hệ thống quản lý.
Việc quản lý bản quyền đòi hỏi cơ quan Nhà nước phải thiết lập bộ tiêu chuẩn kỹ thuật phân lập, tương thích với đặc thù dữ liệu khai thác của không gian mạng (digital) và môi trường thực (physical) trước khi quy tụ về Trung tâm dữ liệu quốc gia có gắn mã định danh của cá nhân, tổ chức chủ thể quyền. Theo đó, mỗi tác phẩm đăng ký được duyệt tiếp nhận đơn và cấp Chứng nhận đăng ký, công bố trên hệ thống (áp dụng cho cả các tác phẩm truyền thống lẫn các tác phẩm có ứng dụng AI trong sáng tạo sản phẩm) được gắn mã ID IP và gán dữ liệu gốc đó với ID của tác giả/chủ sở hữu lớp quyền đầu tiên của tác phẩm. Đây là tác phẩm gốc và dữ liệu về quyền nhân thân của tác giả luôn không thể thay đổi.
Tại Việt Nam, việc định danh đối với đất đai, hàng hóa, hóa chất đã được triển khai và cho thấy tính ưu việt của khả năng truy xuất nguồn gốc khi cấp mã ID cho quyền gốc này. Vì vậy việc gắn SHTT với Căn cước công dân và mã số tổ chức được xem là phương pháp ứng dụng công nghệ hiệu quả đối với định danh quyền tác giả. Bên cạnh đó, phục vụ quá trình truy xuất gắn AND, công nghệ blockchain có thể được lưu vết phản ánh meta data của tác phẩm và lớp quyền gốc này và công khai trên sổ cái phân tán được cho là hoàn toàn minh bạch trong quá trình xác minh nguồn gốc của tác phẩm.
Tiêu chuẩn mã hóa các lớp quyền bằng công nghệ Blockchain.
Phần lớn các sản phẩm của quyền tác giả đang được khai thác trên không gian mạng gắn với các nền tảng công nghệ tiên tiến, chủ yếu xuất xứ từ nước ngoài, đặc biệt là Mỹ. Dữ liệu khai thác phát sinh dưới dạng dấu vết kỹ thuật số (footprints). Do đó tiêu chuẩn quản lý ở đây tập trung vào cấu trúc dữ liệu và định danh tĩnh:
Tiêu chuẩn siêu dữ liệu (Metadata Standards): ở Mỹ và các nước phát triển sử dụng bắt buộc tách lớp: ISWC cho quyền tác giả và ISRC cho quyền bản ghi. Đây là tiêu chuẩn chung thông nhất mà các nền tảng không được phép thay đổi hoặc cắt bỏ các mã định danh lõi này khi phân phối. Đây chính là AND của tác giả luôn gắn vào các sản phẩm khai thác thương mại hoặc phái sinh dưới sự giám sát và chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền.
Tiêu chuẩn giao thức báo cáo (report) Digital Data Exchange (DDEX): mục đích giống như bộ đo đếm SDK xử lý hàng tỷ lượt quét, lượt stream, phát sóng mà mọi nền tảng và kênh phân phối phải kết nối qua cổng API bảo đảm bảo mật thông tin định hình trả file log dưới dạng XML/JSON đồng nhất. Đây là file chứa các dữ liệu tĩnh gồm: mã ID, loại hình tài khoản, thời lượng sử dụng, lãnh thổ, đối tượng theo phân loại quản lý ngành và loại hình khai thác.
Tiêu chuẩn đối soát: Thuật toán hash băm mã hóa từ thời điểm định danh sẽ so sánh matching chuỗi ký tự với số liệu gốc đã công bố (trực tiếp từ tác giả hay từ nền tảng) với dữ liệu gốc đã lưu ghi nhận để trả kết quả tức thời.
Đối với tiêu chuẩn dữ liệu quản lý không gian thực (Physical environment): trong phạm vi nghiên cứu sẽ không đi sâu nhưng công nghệ sẽ chuyển sang tiêu chuẩn dữ liệu kết nối từ các thiết bị IOT bắt buộc đối với các loại hình khai thác như: quán cafe, karaoke, rạp chiếu phim…Đây được gọi là công nghệ dấu ấn vân tay và công nghệ đo đếm tự động (Automatic Content Recognition)
Phương pháp tiêu chuẩn kép này, có thể lấp kín lỗ hổng thất thoát hoặc quản lý khai báo sử dụng đối với các loại hình trên thực tế. Do vậy, việc ứng dụng công nghệ này đồng thời cần cơ quan quản lý nhà nước phải được đâu tư về hạ tầng và phát triển khung pháp lý cụ thể về việc áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ đối với việc kinh doanh khai bản quyền tác giả và quyền liên quan.
Tiêu chuẩn chứng cứ số và xác thực vi phạm trong quản lý quyền trên không gian mạng
Dưới góc độ quản lý thực thi quyền, Nhà nước còn đóng vai trò là đơn vị xác minh chứng cứ và phán xét đối với quá trình vận hành của các đơn vị khai thác, làm trọng tài trong các tranh chấp giữa các lớp quyền. Việc khai thác nội dung, phát triển thị trường kinh doanh và tự động truy xuất tìm chứng cứ vi phạm là trách nhiệm của khu vực tư nhân. Hoạt động truy quét vi phạm trên không gian mạng được triển khai dựa trên nhiệm vụ quản lý thị trường và yêu cầu về kiểm soát trật tự xã hội, an ninh an toàn trên không gian mạng.
Theo đó Nhà nước ban hành tiêu chuẩn chứng cứ số (Digital evidence standards) theo đó cần có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thế nào là một chứng cứ hay bằng chứng hợp lệ trong hoạt động công bố, khai thác và hồ sơ điện tử trong công tác tư pháp. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có đề cập đến chính sách hỗ trợ quản lý đăng ký và bảo hộ quyền đối với các sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa tại Điều 16. Tuy nhiên điều này hơi mơ hồ và chưa có hướng dẫn cũng như chuẩn công nghệ để các chủ thể quyền và đối tượng có thể tuân thủ. Thay vào đó cần xác định và xây dựng rõ một tiêu chuẩn gắn với Cổng xác thực của cơ quản lý có nhiệm vụ định danh quyền SHTT. Hiện thay theo luật là Bộ Công An. Theo đó Cổng này tiếp nhận các hàm băm định danh lớp quyền theo nhiệm vụ tài mục 3.2.
Cần đồng bộ hóa khung pháp lý và ban hành hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật số quốc gia
Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành liên quan sớm rà soát, đồng bộ hóa hệ thống pháp luật thông qua việc ban hành cùng lúc các văn bản Luật Dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trọng tâm của nỗ lực lập pháp này là xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và phương thức kết nối dữ liệu định danh chuyên biệt cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và bản quyền tác giả nói riêng. Việc chuẩn hóa định dạng dữ liệu có thể xử lý tự động và mã định danh duy nhất cho từng tác phẩm số sẽ tạo điều kiện cho việc tích hợp thông tin sở hữu trí tuệ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Hệ thống định danh, xác thực điện tử. Đây là bước đi nền tảng để chuyển đổi từ phương thức đăng ký quyền truyền thống sang mô hình quản trị số liên thông, giúp cơ quan Nhà nước rà quét vi phạm xuyên biên giới hiệu quả và hỗ trợ doanh nghiệp truy vết thông tin sở hữu theo thời gian thực.
Thiết lập cơ chế thử nghiệm pháp lý và ứng dụng công nghệ chuỗi khối như một giải pháp chiến lược.
Trong bối cảnh nguồn lực tài chính và khả năng tiếp cận công nghệ cao của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo còn hạn chế, Chính phủ cần sớm đưa công nghệ định danh số và chuỗi khối (Blockchain) vào định hình phát triển như một sản phẩm chiến lược quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước cần thiết lập cơ chế thử nghiệm pháp lý có kiểm soát (Regulatory Sandbox) đối với các giao dịch tài sản trí tuệ số trên các nền tảng thương mại điện tử chuyên biệt, tương thích với chuẩn mực quốc tế, nhằm tạo dựng một môi trường số mở để các tác phẩm văn hóa nghệ thuật của Việt Nam chủ động kết nối và phát triển ra toàn cầu. Cơ chế thí điểm này đồng thời là đòn bẩy pháp lý quan trọng để hướng dẫn các tổ chức tín dụng chấp nhận quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ số hóa (được ghi vết on-chain không thể sửa đổi) làm tài sản bảo đảm hợp pháp để thế chấp vay vốn phát triển theo đúng tinh thần của Điều 17 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, góp phần khơi thông dòng vốn đầu tư bền vững cho nền công nghiệp văn hóa quốc gia.
Đổi mới phương thức vận hành của các CMO và thúc đẩy xã hội hóa hạ tầng bảo hộ bản quyền
Cần thống nhất phương pháp bảo hộ và cơ chế thu tiền bản quyền của các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan (CMO) dựa trên tiêu chí phân loại kết quả và bằng chứng số hóa được ghi nhận tự động trên không gian mạng, loại bỏ dần các quy trình đối soát thủ công thiếu minh bạch. Nhà nước cần khuyến khích các CMO đầu tư hạ tầng kỹ thuật số liên thông với các thiết bị thông minh ở không gian thực (như công nghệ Internet vạn vật - IoT tại các tụ điểm kinh doanh dịch vụ biểu diễn) để tối ưu hóa hiệu quả thu thù lao bản quyền chính đáng cho tác giả. Song song đó, cần ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân tham gia đầu tư hệ thống công nghệ thông tin, phát triển các nền tảng quản lý ủy quyền và phân phối quyền tự động trên môi trường mạng dựa trên cơ sở ủy quyền hợp pháp của chủ thể quyền. Việc xã hội hóa này không chỉ giảm tải chi phí vận hành cho các CMO truyền thống mà còn nâng cao đáng kể hiệu quả thương mại hóa bản quyền tác giả trong nền kinh tế số.
Việc xây dựng hạ tầng văn hóa số đồng bộ, tích hợp các công nghệ Blockchain để định danh tác phẩm gốc, xác thực chủ thể tham gia giao dịch bằng định danh điện tử quốc gia VNeID ứng dụng trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời khuyến khích khối tư nhân tham gia vào chuỗi giá trị phát triển công nghiệp văn hóa, bảo hộ bản quyền ứng dụng công nghệ Blockchain và giao kết hợp đồng điện tử SmartCA trong phân phối quyền, phân bổ tiền bản quyền tự động qua Smart Contract, ứng dụng AI rà quét chủ động rủi ro vi phạm bản quyền dưới sự phê duyệt của con người, sẽ hình thành nên một hệ sinh thái sáng tạo số minh bạch, an toàn và đáng tin cậy. Mô hình giải pháp này đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ dòng tiền bản quyền của tác giả, bảo đảm nguồn thu ngân sách cho Nhà nước, khơi thông dòng vốn tín dụng cho doanh nghiệp sáng tạo, đồng thời nâng cao vị thế và uy tín thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế sáng tạo toàn cầu.
Chuyển đổi số tạo ra không gian sáng tạo rộng mở, nhưng đồng thời làm gia tăng các rủi ro xâm phạm đối với quyền tác giả, quyền liên quan trên không gian mạng trực tuyến. Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ bản quyền không thể chỉ dựa vào các biện pháp hành chính hay cơ chế pháp lý truyền thống có độ trễ lớn, mà cần phải được bệ đỡ bởi các giải pháp công nghệ hiện đại tự động hóa theo thời gian thực.