Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý và bảo hộ bản quyền trên môi trường số
(DNTO) - Trước áp lực từ sự phát triển như vũ bão của không gian mạng, các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản đã xây dựng những mô hình quản lý và thực thi bản quyền số rất hiệu quả. Việc phân tích bài học từ các quốc gia này sẽ gợi mở những hướng đi thiết thực cho Việt Nam trong quá trình thiết lập hạ tầng bản quyền quốc gia.
Bài 2:
Mô hình quản lý tập trung và cơ chế miễn trừ có điều kiện tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, Điều 512 Đạo luật Bản quyền, được ban hành theo Đạo luật Bản quyền Thiên niên kỷ Kỹ thuật số (DMCA), thiết lập cơ chế thông báo và gỡ bỏ nội dung vi phạm. Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến được giới hạn trách nhiệm nếu đáp ứng các điều kiện luật định, trong đó có việc nhanh chóng gỡ bỏ hoặc vô hiệu hóa quyền truy cập sau khi nhận được thông báo hợp lệ. Người đăng tải được quyền gửi thông báo phản đối và yêu cầu khôi phục nội dung; nếu chủ thể quyền không khởi kiện trong thời hạn luật định, nhà cung cấp dịch vụ có thể phục hồi nội dung đã bị gỡ bỏ.
Bên cạnh đó, Điều 115(d) Đạo luật Bản quyền Hoa Kỳ được bổ sung bởi Đạo luật Hiện đại hóa âm nhạc năm 2018, giao cho The Mechanical Licensing Collective (MLC) - một tổ chức đại diện tập thể duy nhất được thành lập bởi các chủ sở hữu quyền và bắt buộc phải là “một thực thể phi lợi nhuận, không thuộc sở hữu của bất kỳ thực thể nào khác, được thành lập bởi các chủ sở hữu bản quyền để thực hiện các trách nhiệm theo khoản này”, chịu trách nhiệm quản lý hệ thống giấy phép gộp tập trung đối với hoạt động khai thác tác phẩm âm nhạc trên các dịch vụ số nhằm cho phép các dịch vụ này “nhận được giấy phép gộp từ các chủ sở hữu bản quyền thông qua tổ chức quản lý tập thể quyền cơ học để tạo lập và phân phối các bản phân phối ghi âm kỹ thuật số của tác phẩm âm nhạc thông qua một hoặc nhiều hoạt động được bảo hiểm”.
Theo quy định về các chức năng bắt buộc tại Điều 115(d)(3)(C)(i), tổ chức này có nghĩa vụ pháp lý phải “tiếp nhận báo cáo sử dụng từ các nhà cung cấp âm nhạc kỹ thuật số”, đồng thời “nỗ lực xác định các tác phẩm âm nhạc... và định danh, xác định vị trí của các chủ sở hữu bản quyền của các tác phẩm đó”, tiến tới “quản lý quy trình phân phối tiền thù lao bản quyền... đến các chủ sở hữu bản quyền” một cách minh bạch. Song song với đó, nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro tranh chấp sở hữu, MLC bắt buộc phải “thiết lập và duy trì một cơ sở dữ liệu chứa thông tin liên quan đến các tác phẩm âm nhạc (và phần chia của các tác phẩm đó)” và bảo đảm “cơ sở dữ liệu tác phẩm âm nhạc phải được cung cấp công khai cho công chúng dưới định dạng trực tuyến có thể tìm kiếm và miễn phí”.
Nền tảng giao dịch bản quyền số Hàn Quốc và cơ chế giám sát chủ động
Tại Hàn Quốc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban Bản quyền Hàn Quốc xây dựng Digital Copyright Exchange nhằm tập hợp và cung cấp thông tin về tác phẩm, chủ thể quyền và phạm vi quản lý, đồng thời hỗ trợ việc giao kết sử dụng tác phẩm trực tuyến. Hệ thống sử dụng Integrated Copyright Number để liên kết thông tin về cùng một tác phẩm được thu thập từ nhiều nguồn.
Trong hoạt động thực thi, Cơ quan Bảo hộ Bản quyền Hàn Quốc thực hiện giám sát nội dung trên các trang mạng trong và ngoài nước, thu thập và phân tích dữ liệu về bản sao vi phạm, hỗ trợ giám định kỹ thuật số và cung cấp thông tin phục vụ việc cảnh báo, yêu cầu xóa hoặc đình chỉ truyền đưa nội dung theo trình tự có thẩm quyền. Mô hình kết nối dữ liệu tập trung này giúp rút ngắn thời gian xử lý vi phạm, bảo đảm tối đa dòng tiền thù lao cho các chủ thể sáng tạo.
Mô hình quản lý và thực thi quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường số tại Hàn Quốc.
Hệ thống xử lý linh hoạt và đăng ký công khai của Nhật Bản
Tại Nhật Bản, Luật Bản quyền và Luật về hoạt động quản lý quyền tác giả, quyền liên quan tạo cơ sở cho đăng ký, quản lý tập thể, công khai biểu mức và cấp phép sử dụng tác phẩm. Luật sửa đổi năm 2021 bổ sung cơ chế xử lý quyền để phục vụ việc phát sóng đồng thời trên môi trường internet. Trên cơ sở đó, Cơ quan Văn hóa Nhật Bản xây dựng Hệ thống đăng ký thông tin quyền âm nhạc, cho phép các chủ thể chưa tham gia tổ chức quản lý tập thể tự đăng ký thông tin về bản ghi và quyền liên quan; dữ liệu này được kết nối với công cụ tra cứu của Music Information Platform Council để hỗ trợ xác định chủ thể quyền.
Luật sửa đổi năm 2023 tiếp tục bổ sung Điều 67-3, cho phép khai thác có thời hạn đối với tác phẩm đã công bố nhưng chưa được quản lý tập thể và không thể xác định được ý chí của chủ thể quyền, với điều kiện phải nộp khoản tiền bồi hoàn. Các tổ chức được Cơ quan Văn hóa chỉ định có thể tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra điều kiện và quản lý khoản tiền này.
Có thể thấy, dù chọn mô hình nào đi nữa thì các quốc gia phát triển đều giải quyết được 3 vấn đề cốt lõi bằng sự kết hợp giữa chính sách và công nghệ ứng dụng:
Thứ nhất, giải quyết triệt để vấn đề về định danh quyền tác giả quyền liên quan đối với lớp quyền gốc.Thứ hai, giải quyết vấn đề xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu và mã hóa dữ liệu phục vụ kết nối, truy xuất và đối soát phục vụ phân phối quyền tác giả trên không gian mạng và các quyền khác diễn ra trên môi trường thực.Thứ ba, xác lập tiêu chuẩn chứng cứ số và xác thực chứng cứ vi phạm mà các nền tảng thừa nhận và tôn trọng theo chuẩn chung. Những kinh nghiệm quốc tế này mang lại bài học vô cùng đắt giá cho Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa hệ thống quản lý bản quyền số.
Bài 3: Thực trạng và thách thức trong bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam hiện nay