Bảo hộ quyền tác giả trên không gian số: Hành lang pháp lý và trách nhiệm nền tảng
(DNTO) - Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số mang đến cơ hội lớn cho ngành sáng tạo nhưng đồng thời đặt ra thách thức chưa từng có đối với việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan trên môi trường mạng. Để giải quyết triệt để vấn đề này, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, gắn liền với trách nhiệm bắt buộc của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian.
Bài 1:
Bối cảnh bùng nổ kinh tế số và những thách thức chưa từng có
Sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và chuyển đổi số đã dịch chuyển các sản phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học từ dạng vật lý truyền thống sang các tệp dữ liệu phi vật chất lưu hành trên môi trường mạng trực tuyến. Các tài sản số này là động lực thúc đẩy kinh tế văn hóa quốc gia phát triển mạnh mẽ theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đặc tính nổi bật của nội dung số là khả năng phân phối toàn cầu với chi phí gần như bằng không, giúp các nhà sáng tạo tiếp cận công chúng và thương mại hóa tác phẩm một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, chính sự dễ dàng sao chép, truyền phát và chỉnh sửa không làm suy giảm chất lượng gốc đã đặt hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ truyền thống vào một bối cảnh thách thức chưa từng có.
Môi trường không gian mạng mang tính chất không biên giới, phi tập trung và ẩn danh, tạo điều kiện cho các hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan diễn ra với quy mô lớn, tốc độ nhanh và phương thức cực kỳ tinh vi. Một tác phẩm số có thể bị sao chép nguyên bản, thay đổi siêu dữ liệu, hoặc chỉnh sửa cắt ghép thông qua các thuật toán học sâu được cung cấp bởi trí tuệ nhân tạo (AI) chỉ trong vài giây, sau đó được phát tán trên hàng loạt nền tảng số xuyên biên giới như YouTube, Facebook, hay TikTok.
Hạn chế hiện nay nằm ở việc thiếu một hạ tầng số tích hợp cho quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường mạng. Các công cụ hiện hành đang vận hành rời rạc, chưa hình thành được cơ chế thống nhất trong định danh tài sản, xác thực chủ thể quyền và theo dõi vòng đời khai thác tác phẩm. Điều này dẫn đến khó khăn trong kiểm soát việc sử dụng, cũng như trong việc ghi nhận và đối soát thông tin giữa các bên liên quan. Bên cạnh đó, dữ liệu và quy trình phân phối quyền lợi kinh tế từ hoạt động khai thác chưa được chuẩn hóa, làm giảm hiệu quả minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc quyền. Thực trạng này đặt ra yêu cầu xây dựng một cơ chế hạ tầng có tiêu chuẩn thống nhất nhằm tích hợp các chức năng định danh tài sản trí tuệ, xác thực chủ thể quyền và quản lý vòng đời khai thác, qua đó tăng cường tính minh bạch, khả năng truy xuất và hiệu quả thực thi quyền tác giả và quyền liên quan.
Hình minh họa
Quy định pháp luật Việt Nam về hạ tầng số và trách nhiệm trung gian
Hạ tầng số và các biện pháp tự bảo vệ quyền bằng công nghệ chỉ có giá trị thực thi khi được thừa nhận và vận hành trong một hành lang pháp lý đồng bộ. Tại Việt Nam, thể chế số hóa hoạt động sở hữu trí tuệ đã được chính thức luật hóa tại Điều 11b Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH năm 2026 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT 2026). Điều khoản này quy định ưu tiên xây dựng đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ SHTT, bao gồm cả cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền và giá giao dịch quyền SHTT. Cụ thể hóa định hướng này, Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09 tháng 07 năm 2026 về Hạ tầng văn hóa số đã thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu và hình thành các nền tảng số dùng chung kết nối giữa các đơn vị quản lý nhà nước với các doanh nghiệp vận hành sàn thương mại điện tử chuyên biệt. Bên cạnh đó, Điều 198b Luật SHTT 2026 xác lập trách nhiệm pháp lý và cơ chế miễn trừ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trực tuyến, thiết lập hành lang an toàn khuyến khích các chủ quản nền tảng số chủ động triển khai các biện pháp phối hợp rà quét và ngăn chặn hành vi vi phạm.
Tuy nhiên, hành lang an toàn và cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý này không đồng nghĩa với việc giải phóng hoàn toàn các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số khỏi các nghĩa vụ pháp lý độc lập khác. Theo quy định tại Điều 39 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 47/VBHN-VPQH năm 2026, chủ quản nền tảng trung gian trực tuyến bắt buộc phải thực hiện các nghĩa vụ tối thiểu gồm xác thực danh tính tổ chức, cá nhân kinh doanh trên sàn, công bố công khai quy chế hoạt động, lưu trữ đầy đủ thông tin giao dịch điện tử và thiết lập đầu mối tiếp nhận, giải quyết khiếu nại của người dùng. Điều 10 Khoản 3 cùng Luật nghiêm cấm các hành vi lạm dụng vị thế để ép buộc giao dịch liên kết, sắp xếp thứ tự hiển thị sản phẩm không minh bạch, hoặc can thiệp kỹ thuật ẩn đi các đánh giá, phản hồi trung thực của người tiêu dùng. Đồng thời, trong khâu vận hành kỹ thuật, nền tảng phải đáp ứng nghiêm ngặt các nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân quy định tại Điều 29, Điều 30 và Điều 37 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025. Doanh nghiệp với tư cách là Bên kiểm soát và xử lý dữ liệu phải bảo đảm tính đồng thuận tự nguyện của chủ thể, không tự ý thu thập thông tin ngoài phạm vi thỏa thuận, tích hợp tùy chọn chống theo dõi, cung cấp công cụ tự quản trị quyền riêng tư và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra các sự cố rò rỉ dữ liệu phát sinh do lỗi hệ thống.
Hoàn thiện cơ sở công nhận tài sản số và thể chế liên thông
Dưới góc độ giao dịch dân sự, tài sản số trong các ngành công nghiệp văn hóa được thừa nhận là quyền tài sản trị giá được bằng tiền theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 và được dùng làm tài sản bảo đảm để vay vốn tín dụng theo Điều 17 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. Đồng thời, việc thu thập thông tin định danh và lưu vết giao dịch phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an ninh thông tin của Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành.
Để hợp pháp hóa việc liên thông định danh trên không gian số, Dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử mới nhất, tại Điều 7 đề xuất mở rộng đối tượng định danh điện tử sang các tài sản phi vật chất, bao gồm cả quyền tài sản SHTT. Đề xuất này nếu được thông qua, sẽ bổ sung cơ sở pháp lý vững chắc cho việc định danh tài sản trí tuệ. Trong giai đoạn hiện nay, việc triển khai các biện pháp tự bảo vệ bằng công nghệ vẫn phải dựa trên hệ thống pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ, giao dịch điện tử, dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Thêm nữa, trong lĩnh vực Văn hóa nghệ thuật, dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa cũng có quy định về tài sản trí tuệ trong lĩnh vực Công nghiệp văn hóa được pháp luật bảo hộ. Xong, việc xác định căn cứ pháp luật và thủ tục cũng như bằng chứng pháp lý để chứng minh quyền đối với lĩnh vực Công nghiệp văn hóa đặc thù cần được quy định chi tiết cũng như mở rộng khả năng minh chứng thông qua công nghệ phù hợp với Luật giao dịch điện tử, luật Công nghiệp công nghệ số và Luật SHTT là điểm cần đồng nhất về khái niệm cũng như các thủ tục hành chính và phương pháp xác định sở hữu trí tuệ đối với các loại tài sản trí tuệ hình thành từ công nghệ. Vấn đề này thành điểm mấu chốt tạo lập môi trường nền tảng cho không gian phát triển tài sản trí tuệ.
Như vậy, hệ thống thể chế hiện hành và các dự thảo luật mới đang từng bước tạo dựng bệ đỡ vững chắc. Việc kết hợp chặt chẽ giữa quy định pháp luật và hạ tầng công nghệ sẽ bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ tối đa lợi ích của tác giả và doanh nghiệp số.
Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý và bảo hộ bản quyền trên môi trường số