TS. Trần Tự Lực: Doanh nghiệp phải dẫn dắt chuỗi giá trị nông nghiệp xanh Quảng Trị
(DNTO) - TS. Trần Tự Lực cho rằng, muốn chuyển nông nghiệp Quảng Trị từ sản xuất nhỏ lẻ sang các chuỗi giá trị xanh, cần đặt doanh nghiệp vào vị trí hạt nhân thị trường, đầu tư và tổ chức vùng nguyên liệu, tham gia xây dựng tiêu chuẩn, chế biến và bảo đảm đầu ra; đồng thời hình thành hệ thống dữ liệu đủ lớn để hỗ trợ đầu tư và quản trị chuỗi.
Từ “quy mô sản xuất” đến quy mô giá trị
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (VPSF) – Vòng địa phương Quảng Trị, TS. Trần Tự Lực, Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing Huế, cho rằng dư địa lớn nhất của nông nghiệp Quảng Trị không chỉ nằm ở diện tích hay sản lượng, mà ở khả năng biến những lợi thế sẵn có thành các chuỗi giá trị xanh, có thương hiệu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo TS. Trần Tự Lực, nông nghiệp Quảng Trị đang đứng trước chuyển dịch quan trọng: từ mô hình chú trọng sản lượng sang mô hình hướng tới giá trị kinh tế, hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng khí hậu.

TS. Trần Tự Lực, Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing Huế (Ảnh: Phan Chính)
Khái niệm chuỗi giá trị nông nghiệp xanh cần được nhìn từ sự liên kết giữa các tác nhân và giá trị gia tăng ở từng công đoạn. Sản xuất hữu cơ phải bảo đảm quy trình sinh thái, chất lượng và an toàn; sản xuất tuần hoàn phải hình thành vòng quay của nguyên liệu, phụ phẩm thay vì tạo ra dòng chất thải tuyến tính. Quan trọng hơn, toàn bộ chuỗi phải giảm được rủi ro từ biến đổi khí hậu và phân bổ lợi ích hài hòa giữa các bên.
Từ góc nhìn nông nghiệp, ông nhận diện 5 không gian phát triển của Quảng Trị gồm: lương thực và nông nghiệp hàng hóa đồng bằng; cây công nghiệp đặc sản vùng miền núi; lâm nghiệp phía Tây; kinh tế biển, thủy sản; kết nối nông nghiệp sinh thái với du lịch.
Điểm đáng lưu ý, theo ông Lực, là tỉnh Quảng Trị có quy mô sản xuất lớn nhưng quy mô tổ chức chuỗi còn hạn chế. Nhiều hộ cùng sản xuất một loại nông sản nhưng thiếu tính đồng nhất, thiếu liên kết và chưa hình thành được sức mạnh thị trường. Vì vậy, sản lượng lớn chưa chắc tạo ra giá trị lớn.
“Quy mô sản xuất chưa đồng nghĩa với quy mô giá trị”, ông Lực nói, đồng thời cho rằng Quảng Trị cần kết nối các mô hình thành vùng nguyên liệu được tiêu chuẩn hóa, số hóa và gắn với doanh nghiệp.
Trong lâm nghiệp, ông đề xuất cách tiếp cận đa giá trị, kết nối rừng, gỗ, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, du lịch sinh thái, dịch vụ hệ sinh thái, carbon và sinh kế cộng đồng thành một chuỗi khép kín. Xu hướng tiêu dùng xanh trên các thị trường quốc tế cũng tạo thêm cơ hội cho Quảng Trị. Các sản phẩm như hồ tiêu, cà phê, gạo hữu cơ, dược liệu, lâm sản hay viên nén gỗ có thể hướng tới những tiêu chuẩn cao hơn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, qua đó mở dư địa cho chế biến sâu và gia tăng giá trị.
Doanh nghiệp phải dẫn dắt, dữ liệu trở thành hạ tầng
TS. Trần Tự Lực khẳng định, sản xuất nhỏ lẻ là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Quá trình chuyển đổi cần đi từ hộ sản xuất tới tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và những quy mô lớn hơn, thay vì duy trì các mô hình manh mún. Cùng với đó là thiếu liên kết trong giao dịch và tiêu thụ.
Ông rằng cần chuyển sang các hợp đồng chuỗi, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các tiêu chuẩn sản xuất cũng phải được chuẩn hóa, chứng nhận và truy xuất để bảo đảm tính đồng nhất của sản phẩm.
Một điểm nghẽn khác là chế biến còn hạn chế, nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu bán dưới dạng nguyên liệu. Theo ông, cần tăng đầu tư chế biến sâu, logistics và đa dạng hóa sản phẩm. Đặc biệt, dữ liệu đang bị phân tán giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. “Ta hầu như có dữ liệu hết”, nhưng dữ liệu chưa được tích hợp thành một hệ thống đủ lớn để hỗ trợ hoạch định chính sách, quy hoạch hay quyết định đầu tư.
Từ đó, TS. Trần Tự Lực đề xuất xây dựng “Bản đồ nông nghiệp xanh tỉnh Quảng Trị”, tích hợp dữ liệu về đất đai, nước, cây trồng, rừng và vùng nguyên liệu. Khi kết hợp với dữ liệu khí hậu, sản lượng và rủi ro, hệ thống có thể hỗ trợ xác định vùng nào phù hợp với cây trồng nào, khu vực nào có nguy cơ và nơi nào có lợi thế để phân bổ nguồn lực.
Theo ông, chuỗi dữ liệu cần hướng tới một vòng khép kín: có dữ liệu, dự báo, quyết định đầu tư, kết nối thị trường và đo lường kết quả.
TS. Trần Tự Lực cũng cho rằng nông sản cần được gắn với trải nghiệm và câu chuyện thương hiệu. Du khách có thể đến vùng sản xuất, trải nghiệm quy trình làm ra sản phẩm, sử dụng sản phẩm và từ đó hình thành câu chuyện cho thương hiệu. Kiến trúc thương hiệu có thể đi từ thương hiệu địa phương, tới thương hiệu ngành hàng như cà phê Khe Sanh, hồ tiêu và cuối cùng là thương hiệu riêng của doanh nghiệp.
Về chính sách, ông đề xuất Quảng Trị chuyển từ hỗ trợ từng mô hình sang xây dựng các chuỗi giá trị mở, lựa chọn những ngành hàng có lợi thế để đầu tư trọng điểm theo từng giai đoạn. Mỗi chuỗi cần có vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp, tiêu chuẩn, chế biến, thị trường và tài chính cùng nằm trong một hệ thống.
Trong cấu trúc đó, doanh nghiệp được đặt ở vị trí hạt nhân thị trường, vừa tham gia chế biến, xây dựng tiêu chuẩn vừa bảo đảm đầu ra; hợp tác xã quản lý vùng nguyên liệu; nông dân tổ chức sản xuất xanh, hữu cơ; Nhà nước tạo thể chế và hạ tầng; các khâu logistics, chế biến và tài chính hoàn thiện chuỗi.
“Doanh nghiệp phải chuyển từ mua nguyên liệu sang đầu tư và tổ chức vùng nguyên liệu, tham gia từ tiêu chuẩn đến thị trường”, ông Lực đề xuất.
Theo cách tiếp cận này, nông nghiệp xanh Quảng Trị không chỉ là câu chuyện giảm hóa chất, giảm phát thải hay tái sử dụng phụ phẩm. Đó là quá trình tổ chức lại toàn bộ chuỗi, để những lợi thế về đất đai, khí hậu, rừng, biển và sản vật địa phương được chuyển hóa thành giá trị kinh tế cao hơn, có khả năng cạnh tranh và thích ứng tốt hơn với những thay đổi của thị trường và khí hậu.