Giám đốc Công ty HTI UAS: Muốn làm chủ bầu trời, Việt Nam phải làm chủ công nghệ lõi
(DNTO) - Từ những linh kiện mua trên mạng và khuôn thạch cao, HTI UAS mất nhiều năm thử nghiệm để từng bước làm chủ thiết kế UAV, hướng tới xây dựng hệ sinh thái drone phục vụ quốc phòng và kinh tế.
Từ những linh kiện mua trên mạng đến chiếc UAV “Made in Vietnam”
Chia sẻ về hành trình phát triển HTI UAS, ông Tạ Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty HTI UAS, cho rằng điều khó nhất khi bắt đầu nghiên cứu UAV không phải là tạo ra một chiếc máy bay có thể cất cánh, mà là làm chủ được những công nghệ nằm bên trong nó.
Theo ông Thanh, ý tưởng phát triển UAV chuyên dụng được hình thành từ khoảng 5 năm trước, khi nhóm kỹ sư của HTI bắt đầu nghiên cứu trong điều kiện còn thiếu thốn cả về thiết bị, kinh nghiệm lẫn nguồn lực. Thời điểm đó, nhóm chủ yếu tập hợp những kỹ sư trẻ, trong đó có nhiều sinh viên xuất sắc từ Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Ông Tạ Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty HTI UAS
“Chúng tôi mua đồ trên mạng, có những linh kiện mua từ Shopee về rồi tháo ra nghiên cứu. Mọi thứ bắt đầu rất đơn giản”, ông Thanh nhớ lại.
Những bản thiết kế ban đầu được thử nghiệm bằng các phương pháp thủ công. Nhóm kỹ sư tự đổ khuôn thạch cao để tạo hình thân máy bay, sau đó chuyển sang khuôn composite rồi khuôn nhôm. Mỗi bước tiến đều đi kèm những lần thử nghiệm thất bại và phải làm lại.
Theo ông Thanh, phải mất khoảng ba năm, đội ngũ mới hoàn thiện phiên bản VT02. Đây là dấu mốc quan trọng bởi từ chỗ nghiên cứu, lắp ráp những bộ phận có sẵn, nhóm bắt đầu tiến tới làm chủ thiết kế và từng bước nội địa hóa các thành phần quan trọng.
Từ khoảng 10 người ban đầu, đội ngũ nghiên cứu hiện tăng lên gần 30 kỹ sư. Công việc không chỉ diễn ra trong giờ hành chính. Có những thời điểm, văn phòng HTI thường sáng đèn tới 2-3 giờ sáng khi đội ngũ phải xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thử nghiệm.
“Làm UAV không thể chỉ giỏi một lĩnh vực. Chúng tôi phải giải quyết từ thiết kế khí động học, phần mềm điều khiển bay, điện tử, truyền dẫn cho tới sản xuất”, ông Thanh nói.
Một trong những mục tiêu được HTI UAS theo đuổi là giảm sự phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu. Đội ngũ đã nghiên cứu hệ thống Flight Controller và tìm cách làm chủ một số công đoạn sản xuất điện tử, trong đó có công nghệ SMT.
Ông Thanh thừa nhận đây là lĩnh vực cần đầu tư dài hạn. Sau nhiều năm nghiên cứu, doanh nghiệp vẫn chưa có nguồn thu tương xứng với số vốn đã bỏ ra.
“Chúng tôi đầu tư vào UAV như muối bỏ bể. Đến nay vẫn chưa thu về đồng nào, nhưng vẫn phải tiếp tục đầu tư. Nếu không làm chủ công nghệ, chúng ta sẽ mãi đi sau và có thể đối mặt với rủi ro khi phụ thuộc vào thiết bị nước ngoài”, ông chia sẻ.
Không chỉ làm drone, phải xây được hệ sinh thái công nghiệp
Theo Giám đốc HTI UAS, bài toán lớn hơn đối với drone Việt Nam hiện nay nằm ở hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ.
Một doanh nghiệp có thể làm chủ thiết kế, phần mềm điều khiển hoặc một số thiết bị điện tử, nhưng để tạo ra một hệ thống UAV hoàn chỉnh vẫn cần nhiều thành phần mà trong nước chưa có năng lực sản xuất ổn định.
Động cơ và hệ thống truyền dẫn là hai ví dụ. Theo ông Thanh, ở một số cấu phần truyền dẫn, doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu từ các thị trường nước ngoài. Trong khi đó, Việt Nam chưa có nhiều đơn vị sản xuất động cơ chuyên dụng đáp ứng đầy đủ yêu cầu đối với UAV.

UAV giúp ngành nông nghiệp phát triển
“Muốn phát triển UAV thì không thể chỉ có một doanh nghiệp làm tất cả. Chúng ta cần cả hệ sinh thái gồm cơ khí, điện tử, vật liệu, phần mềm, động cơ và truyền dẫn”, ông nói.
HTI UAS đang phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội và một số doanh nghiệp cơ khí để nghiên cứu phát triển động cơ riêng. Đây được xem là một trong những hướng đi nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.
Tuy nhiên, theo ông Thanh, doanh nghiệp còn gặp một vấn đề khác là hành lang thử nghiệm và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Hoạt động nghiên cứu UAV đòi hỏi phải có điều kiện bay thử thực tế. Nhưng quá trình thử nghiệm, kiểm định và cấp phép bay vẫn còn những điểm khiến doanh nghiệp khó chủ động.
“Có những lúc rơi vào câu chuyện con gà, quả trứng. Muốn bay thử thì phải đáp ứng điều kiện kiểm định, nhưng để hoàn thiện sản phẩm và kiểm định thì lại cần dữ liệu từ quá trình bay thử”, ông Thanh cho biết.
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn riêng cho UAV. Khi thiếu tiêu chuẩn thống nhất, doanh nghiệp phải tham khảo hoặc áp dụng các tiêu chuẩn của những thị trường khác, khiến quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa gặp thêm khó khăn.
Từ góc nhìn của ông Thanh, tháo gỡ những vấn đề này không chỉ giúp một doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng cho cả ngành UAV trong nước.
Ông cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn khi nền kinh tế tầm thấp ngày càng mở rộng. UAV không chỉ phục vụ quốc phòng, an ninh hay quay phim mà còn có thể tham gia vào nông nghiệp, logistics, cứu hộ cứu nạn, giám sát hạ tầng và vận chuyển hàng hóa.
Với địa hình nhiều vùng núi, đảo và khu vực giao thông khó khăn, Việt Nam có những bài toán thực tế mà UAV có thể giải quyết hiệu quả.
Trong nông nghiệp, drone đã được sử dụng để phun thuốc, theo dõi cây trồng. Tại những vùng địa hình phức tạp, UAV còn có thể vận chuyển hàng hóa nhỏ hoặc đưa vật tư tới những nơi phương tiện thông thường khó tiếp cận.
Ông Thanh đặc biệt kỳ vọng vào thị trường kinh tế tầm thấp, nơi UAV có thể trở thành một phần của hạ tầng logistics mới.
Theo ông, Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, nhu cầu ứng dụng công nghệ lớn và địa hình đa dạng. Nếu tận dụng được những lợi thế này, doanh nghiệp Việt Nam có thể không nhất thiết phải đi theo toàn bộ con đường mà các quốc gia khác đã trải qua mà có thể lựa chọn những lĩnh vực phù hợp để đi nhanh hơn.
HTI UAS đang hướng tới xây dựng các nhà máy và khu vực sản xuất chuyên nghiệp, từng bước chuyên môn hóa quá trình chế tạo UAV.
Mục tiêu cuối cùng, theo ông Thanh, không phải chỉ tạo ra thêm một thương hiệu drone Việt Nam mà là xây dựng năng lực công nghệ đủ sâu để doanh nghiệp có thể chủ động thiết kế, sản xuất, nâng cấp và phát triển các dòng UAV theo nhu cầu thực tế.
“Chúng tôi không chỉ muốn bán một chiếc máy bay. Điều quan trọng hơn là xây dựng niềm tin rằng người Việt có thể tự nghiên cứu, tự sản xuất và làm chủ công nghệ trên bầu trời của mình”, ông Thanh nói.