Thứ sáu, 29/05/2026

Doanh Nhân Trẻ

  • Click để copy

Thương mại hoá công nghệ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Năng lực lõi cho năng lực cạnh tranh quốc gia

Vũ Hồng Quân
- 18:23, 29/05/2026

(DNTO) - Phát biểu tham luận tại chương trình hoạt động hưởng ứng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2026 với chủ đề “Khơi dậy và kết nối các nguồn lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ông Vũ Hồng Quân - Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội DNT Việt Nam, Chủ tịch DNT Gia Lai cho biết, nếu thương mại hóa thành công, Việt Nam có thể biến khoa học công nghệ thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

 

Ông Vũ Hồng Quân - Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội DNT Việt Nam, Chủ tịch DNT Gia Lai trình bày tham luận tại chương trình

Ông Vũ Hồng Quân - Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội DNT Việt Nam, Chủ tịch DNT Gia Lai trình bày tham luận tại chương trình

Dưới đây là nội dung tham luận tại chương trình:

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là câu chuyện riêng của ngành khoa học, mà đã trở thành một yêu cầu chiến lược của quốc gia, gắn trực tiếp với năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Thực tiễn đặt ra yêu cầu rất rõ: tăng trưởng của Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng quy mô theo chiều rộng. Đầu tư cho R&D của Việt Nam hiện vẫn khoảng 0,5% GDP, trong khi mức trung bình thế giới năm 2021 là 2,62% GDP. Ngược lại, Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 xếp Việt Nam thứ 44/139 nền kinh tế. Điều đó cho thấy Việt Nam có tiềm năng đổi mới sáng tạo, nhưng muốn biến tiềm năng thành tăng trưởng thực chất, phải nâng mạnh năng lực khoa học, công nghệ và năng lực thương mại hóa của doanh nghiệp.

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đã tạo thành một trục chính sách quan trọng: khoa học, công nghệ là động lực then chốt; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và thị trường.

Vì vậy, vấn đề đặt ra là: vì sao chúng ta đã có chủ trương, có luật, có nhà khoa học, có doanh nghiệp, có công nghệ, nhưng năng lực thương mại hóa công nghệ của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng?

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 đã tạo bước mở quan trọng khi xác định yêu cầu gắn hoạt động khoa học, công nghệ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; khuyến khích doanh nghiệp tham gia đề xuất, đặt hàng, thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ; ghi nhận nguyên tắc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm có kiểm soát và đầu tư mạo hiểm; đồng thời có quy định riêng về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa.

Như vậy, trục phát triển mới đã rõ: Đảng định hướng chiến lược; Quốc hội thể chế hóa bằng pháp luật; Nhà nước tổ chức thực thi; nhà khoa học tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp; doanh nghiệp là lực lượng đưa công nghệ vào thị trường.

Vấn đề đặt ra là: vì sao chúng ta đã có chủ trương, có luật, có nhà khoa học, có doanh nghiệp, có công nghệ, nhưng thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn chưa tương xứng với tiềm năng?

Việt Nam không thiếu tiềm năng đổi mới sáng tạo. Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong GII 2025, đứng thứ 3 trong ASEAN sau Singapore và Malaysia; đồng thời là một trong hai quốc gia duy trì thành tích đổi mới sáng tạo vượt trội so với mức độ phát triển trong 15 năm liên tiếp.

Chúng ta cũng không thiếu cơ sở nghiên cứu và công nghệ có khả năng ứng dụng. Bên cạnh Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam còn có các đại học quốc gia, đại học vùng, trường đại học kỹ thuật, viện nghiên cứu chuyên ngành, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như AI, vật liệu mới, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, y dược, môi trường, cơ khí, tự động hóa, năng lượng, logistics và chuyển đổi số. Danh mục công nghệ của Viện Hàn lâm cũng đã có các nhóm công nghệ về AI, IoT, điện toán đám mây, điện toán biên, robotics, GPTViet, Digital Core Platform, nông nghiệp, thủy lợi, môi trường, thủy sản, thực phẩm, xây dựng và y dược.

Về phía doanh nghiệp, nhu cầu đổi mới công nghệ rất rõ. Ngành gỗ đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 17,2 tỷ USD năm 2025 nhưng chịu sức ép lớn từ phòng vệ thương mại, xuất xứ, tiêu chuẩn xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Ngành dệt may đứng trước yêu cầu chuyển đổi xanh, nhưng mới khoảng 10% doanh nghiệp triển khai tốt ESG, khoảng 20% ứng dụng chuyển đổi số ở các mức độ khác nhau. Nông, lâm, thủy sản lại chịu áp lực trực tiếp về truy xuất nguồn gốc, chất lượng và uy tín sản phẩm xuất khẩu.

Một điểm cần nhìn thẳng là năng lực nghiên cứu và nhân lực công nghệ ở Việt Nam chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Samsung đã đưa vào vận hành Trung tâm R&D tại Hà Nội với khoảng 2.200 nhân sự. Bosch Global Software Technologies tại Việt Nam có khoảng 4.000 nhân sự. Điều đó cho thấy kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia chuỗi R&D tiêu chuẩn quốc tế.

Nhưng phần năng lực ấy chưa được kết nối đủ mạnh với doanh nghiệp trong nước. Nhiều kỹ sư Việt Nam làm R&D cho sản phẩm và thị trường toàn cầu, trong khi doanh nghiệp Việt Nam khi cần đổi mới vẫn phải mua máy móc, thuê tư vấn, nhập phần mềm hoặc tìm giải pháp từ nước ngoài. Đây là một dạng “chảy máu chất xám tại chỗ”, nhân lực ở Việt Nam, năng lực kỹ thuật ở Việt Nam, nhưng giá trị thương mại chủ yếu đi theo chuỗi sản phẩm và đơn đặt hàng của doanh nghiệp nước ngoài.

Điểm nghẽn nằm ở đây: công nghệ có, nhu cầu có, nhà khoa học có, doanh nghiệp có, chính sách đang mở ra; nhưng chưa có cơ chế vận hành đủ mạnh để kết nối các yếu tố đó thành doanh thu, năng suất và lợi thế cạnh tranh.

Theo tôi, có bốn nguyên nhân chính.

Thứ nhất, nhà khoa học và doanh nghiệp khác nhau tự nhiên về ngôn ngữ, mục tiêu và cách đánh giá giá trị. Nhà khoa học bắt đầu từ tính mới, tính sáng tạo, quy trình kỹ thuật và mức độ sẵn sàng công nghệ. Doanh nghiệp bắt đầu từ doanh thu, chi phí, thời gian hoàn vốn, rủi ro vận hành và khả năng thị trường chấp nhận. Nếu không có cơ chế trung gian đủ mạnh để “phiên dịch” giữa ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ thị trường, công nghệ dù tốt vẫn có thể nằm trong phòng thí nghiệm; kết quả nghiên cứu dù có giá trị vẫn có thể dừng ở báo cáo, đề tài, hội thảo hoặc danh mục.

Thứ hai, năng lực hấp thụ công nghệ của phần lớn doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa có phòng R&D, chưa có nhân sự chuyên trách, chưa có dữ liệu sạch, chưa có quy trình chuẩn, chưa có năng lực đánh giá công nghệ và tổ chức thử nghiệm. Một khảo sát từng cho thấy chỉ 4,5% doanh nghiệp nhỏ và vừa, 11,8% doanh nghiệp lớn được khảo sát có hoạt động R&D. Ví dụ, đưa AI vào doanh nghiệp không chỉ là mua phần mềm AI, mà cần dữ liệu sạch, quy trình rõ, nhân sự hiểu, chỉ số đo lường cụ thể và năng lực đánh giá công nghệ độc lập.

Thứ ba, hệ sinh thái tài chính cho R&D và thương mại hóa còn mỏng. Nghiên cứu cần tiền, nhưng thương mại hóa còn cần vốn cho sản xuất thử, kiểm định, tiêu chuẩn hóa, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm thị trường, phát triển sản phẩm và mở rộng quy mô. Ngân hàng thương mại khó tài trợ cho tài sản trí tuệ hoặc dự án công nghệ chưa có dòng tiền ổn định. Quỹ pilot, quỹ scale-up, quỹ đầu tư mạo hiểm còn thiếu cơ chế vận hành linh hoạt. Nghị định số 264/2025/NĐ-CP về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương là bước mở quan trọng, nhưng cần cụ thể hóa cơ chế đồng đầu tư, chia sẻ rủi ro, chia sẻ lợi nhuận và huy động vốn trung, dài hạn cho thương mại hóa.

Thứ tư, chúng ta còn thiếu chủ thể trung gian đủ năng lực và đủ động cơ kinh tế để thúc đẩy thương mại hóa đến cùng. Không thể chỉ tổ chức hội thảo, giới thiệu danh mục công nghệ, ký biên bản ghi nhớ rồi kỳ vọng công nghệ tự đi vào doanh nghiệp. Thương mại hóa cần một công ty, một viện, một trung tâm, một quỹ hoặc một tổ chức trung gian có năng lực thị trường, năng lực công nghệ, năng lực tài chính và năng lực triển khai; có thể bóc đúng pain point, chọn đúng công nghệ, thiết kế đúng thử nghiệm và thúc đẩy đến khi có hợp đồng, sản phẩm, doanh thu.

Từ những điểm nghẽn đó, thương mại hóa công nghệ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần được hiểu không chỉ là chuyển giao một kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp, mà là quá trình biến tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ thành sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh và giá trị thị trường đo đếm được. Giá trị đó có thể là doanh thu mới, chi phí tiết giảm, năng suất tăng, tỷ lệ lỗi giảm, phát thải thấp hơn, tiêu chuẩn xuất khẩu được đáp ứng, hoặc một sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh được hình thành.

Nói ngắn gọn: thương mại hóa công nghệ chỉ thực chất khi tri thức khoa học đi được vào thị trường, công nghệ làm cho doanh nghiệp mạnh lên, nhà khoa học được ghi nhận xứng đáng và nền kinh tế hình thành thêm năng lực cạnh tranh mới.

Vậy làm thế nào để để thương mại hóa công nghệ trở thành một năng lực vận hành thực sự của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo?

Trước hết, phải thay đổi cách tiếp cận của cả hệ sinh thái: chuyển từ tư duy “giới thiệu công nghệ” sang tư duy “giải bài toán thị trường”. Nếu chúng ta chỉ hỏi viện nghiên cứu đang có công nghệ gì, hoạt động kết nối sẽ đi từ phía cung. Nhưng nếu hỏi doanh nghiệp đang đau ở đâu, mất chi phí ở đâu, cần nâng năng suất ra sao, cần đạt tiêu chuẩn gì để xuất khẩu, thì hoạt động kết nối sẽ đi từ nhu cầu thật của thị trường.

Từ đó, cần một cơ chế trung gian đủ mạnh để hệ sinh thái khớp lại: doanh nghiệp nêu đúng bài toán; tổ chức trung gian phân tích, chuẩn hóa bài toán thành yêu cầu công nghệ; nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học đề xuất giải pháp; doanh nghiệp cùng thử nghiệm, đo lường, hoàn thiện và quyết định đầu tư.

Đồng thời, doanh nghiệp phải nâng năng lực hấp thụ công nghệ của chính mình: có tầm nhìn R&D, nhân sự phụ trách đổi mới công nghệ, quy trình quản trị dữ liệu, khả năng đặt hàng nghiên cứu, năng lực đánh giá công nghệ, cơ chế thu xếp nguồn lực cho R&D và khả năng tự chủ trong tiếp nhận, làm chủ, cải tiến công nghệ.

Cùng với đó, phải hình thành văn hóa thử nghiệm nhanh, quy mô nhỏ, chi phí kiểm soát được. Công nghệ số có thể thử trên một phòng ban hoặc một quy trình. Công nghệ sản xuất có thể thử trên một dây chuyền. Công nghệ môi trường có thể thử trên một cụm xử lý. Công nghệ thủy sản có thể thử trên một vùng nuôi hoặc một chu kỳ sản xuất. Quan trọng là thử nghiệm đủ nhỏ để kiểm soát rủi ro, đủ nhanh để tạo dữ liệu, đủ rõ chỉ số để quyết định có nhân rộng hay không.

Một giải pháp rất quan trọng là hình thành chủ thể trung gian vận hành thương mại hóa công nghệ, trong đó cơ chế “một cửa kết nối công nghệ” giữa Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Công nghệ cao thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có thể là một mô hình cụ thể.

Cơ chế một cửa này cần tiếp nhận nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp hội viên; phân loại nhu cầu theo ngành, quy mô, mức độ cấp thiết và khả năng triển khai; khai thác pain point; kết nối với công nghệ, chuyên gia, viện nghiên cứu phù hợp; thiết kế mô hình thử nghiệm; bố trí kỹ sư, chuyên gia testing; đánh giá kết quả; theo dõi sau kết nối để thúc đẩy ký kết, chuyển giao, đặt hàng nghiên cứu hoặc hợp tác đầu tư.

Điểm cốt lõi là chủ thể trung gian phải có động cơ kinh tế để nuôi sống hoạt động. Nếu chỉ vận hành bằng phong trào, ngân sách ngắn hạn hoặc nhiệm vụ hành chính, rất khó đi đến kết quả cuối cùng. Trung gian thương mại hóa cần có cơ chế thu phí, chia sẻ doanh thu, góp vốn, đồng đầu tư, hưởng phí thành công hoặc tham gia lợi ích khi công nghệ được thương mại hóa.

Ở góc độ Nhà nước và các bộ, ngành, cần sớm cụ thể hóa các cơ chế về đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp, đồng tài trợ thử nghiệm công nghệ, quỹ hỗ trợ pilot, định giá công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ.

Đối với nhà khoa học và viện nghiên cứu, cần tiến từ nghiên cứu đúng sang nghiên cứu có khả năng đi vào thị trường. Một kết quả nghiên cứu càng gần bài toán sản xuất, càng rõ điều kiện triển khai, càng được bảo hộ sở hữu trí tuệ, càng có khả năng thử nghiệm và đóng gói thương mại, thì càng có cơ hội tạo ra giá trị lớn.

Đối với doanh nghiệp, cần thay đổi tư duy từ “mua thiết bị” sang “đầu tư năng lực công nghệ”; từ “ứng dụng công nghệ khi bị bắt buộc” sang “đổi mới sáng tạo để tạo lợi thế cạnh tranh”; từ “làm một mình” sang “hợp tác với nhà khoa học, viện nghiên cứu, chuyên gia và tổ chức hỗ trợ”.

Một điểm nữa không thể thiếu là cơ chế tài chính và sở hữu trí tuệ cho thương mại hóa. Cần các mô hình linh hoạt như đồng tài trợ pilot, cho thuê công nghệ, trả phí theo kết quả, chia sẻ doanh thu, hợp tác đầu tư, kết nối quỹ đầu tư, ngân hàng và chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo của Nhà nước. Đồng thời, cần hợp đồng mẫu, cơ chế định giá công nghệ, quy định rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền phát triển tiếp, quyền thương mại hóa và tỷ lệ phân chia lợi ích.

Cuối cùng, muốn thương mại hóa thực chất thì phải đo bằng kết quả thực chất: số doanh nghiệp được khảo sát nhu cầu, số công nghệ được kết nối đúng bài toán, số dự án thử nghiệm, số hợp đồng chuyển giao, số sản phẩm mới ra thị trường, số chi phí được tiết giảm, số doanh thu mới được tạo ra, số doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Thương mại hóa công nghệ không phải là việc riêng của nhà khoa học, cũng không phải là việc riêng của doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ chung của cả hệ sinh thái.

Từ góc độ Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, đây là lợi thế rất lớn cần được chuyển hóa thành năng lực vận hành thương mại hóa. Hội hiện có mạng lưới tại 34/34 tỉnh, thành phố, 02 tập đoàn kinh tế, 16 câu lạc bộ trực thuộc, với hơn 21.000 hội viên; các doanh nghiệp hội viên tạo doanh thu hằng năm trên 40 tỷ USD, đóng góp hơn 10% GDP và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động. Đây không chỉ là mạng lưới doanh nhân, mà còn là mạng lưới thị trường, mạng lưới bài toán, mạng lưới thử nghiệm và mạng lưới có khả năng triển khai các dự án pilot trên nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều quy mô doanh nghiệp.

Trong nhiều năm qua, Hội cũng đã tổ chức các chương trình, giải thưởng có uy tín như Sao Đỏ - Doanh nhân trẻ Việt Nam tiêu biểu, Sao Vàng đất Việt, Doanh nhân trẻ khởi nghiệp xuất sắc và nhiều hoạt động kết nối, đào tạo, đối thoại chính sách, xúc tiến thương mại. Những chương trình này tạo ra nguồn dữ liệu thực tiễn quan trọng về doanh nghiệp tăng trưởng, doanh nghiệp đổi mới, doanh nghiệp dẫn dắt ngành và doanh nghiệp có khả năng tiếp nhận công nghệ.

Vì vậy, sau chương trình hôm nay, việc quan trọng nhất không chỉ là ký kết, mà là triển khai được việc sau ký kết: có đầu mối thường trực, có cơ sở dữ liệu nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp hội viên, có nhóm ngành ưu tiên để làm thí điểm như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp - thủy sản, dược liệu, vật liệu xây dựng, môi trường, chuyển đổi số, AI, logistics; có mạng lưới doanh nghiệp sẵn sàng làm pilot để công nghệ có môi trường thử nghiệm thật và dữ liệu đánh giá thật.

Nếu mỗi công nghệ sẵn sàng chuyển giao tìm được một doanh nghiệp phù hợp; nếu mỗi doanh nghiệp có bài toán thật tìm được một nhà khoa học đồng hành; nếu mỗi bản ghi nhớ được tiếp nối bằng một dự án thử nghiệm cụ thể; nếu mỗi dự án thử nghiệm được đo bằng hiệu quả kinh tế rõ ràng, thì thương mại hóa công nghệ sẽ không còn là khẩu hiệu.

Khi đó, khoa học công nghệ sẽ đi vào sản xuất. Đổi mới sáng tạo sẽ đi vào quản trị doanh nghiệp. Nhà khoa học sẽ được ghi nhận bằng giá trị thực tế. Doanh nghiệp sẽ mạnh lên bằng năng lực công nghệ. Và đất nước sẽ có thêm sức cạnh tranh mới.

Câu trả lời cho bài toán “thương mại hóa công nghệ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo” có thể khái quát trong một mệnh đề:

Phải bắt đầu từ nhu cầu thật của thị trường; kết nối với công nghệ thật sự phù hợp; thử nghiệm trong điều kiện thật của doanh nghiệp; nâng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; có cơ chế tài chính và sở hữu trí tuệ rõ ràng; có vai trò kiến tạo của Nhà nước; có chủ thể trung gian vận hành đến cùng; đo bằng hiệu quả thật; và duy trì một cơ chế hợp tác thật giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ.

Thương mại hóa thực chất nằm ở số công nghệ đi vào doanh nghiệp.

Nằm ở số sản phẩm bán được.

Nằm ở số doanh nghiệp mạnh lên.

Nằm ở việc nhà khoa học được ghi nhận xứng đáng.

Nằm ở năng lực thị trường của công nghệ Việt Nam.

Và sau cùng, nằm ở năng lực cạnh tranh công nghệ của quốc gia.

Nếu thương mại hóa thành công, điều được khẳng định không chỉ là giá trị của một công nghệ, một đề tài hay một sản phẩm. Điều được khẳng định lớn hơn là Việt Nam có khả năng biến tri thức thành năng lực sản xuất, biến nghiên cứu thành sức mạnh thị trường, biến doanh nghiệp thành trung tâm đổi mới sáng tạo và biến khoa học công nghệ thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. 

Tin khác

Đồng Hành Cùng Doanh Nghiệp
Trước thềm ra mắt chính thức, mô hình Trạm giặt sấy tự phục vụ Omywash tại Centre Mall Võ Văn Kiệt triển khai chương trình ý nghĩa khi tặng miễn phí 100% dịch vụ giặt sấy trong suốt tháng 6 dành cho các tổ chức, nhóm hoạt động thiện nguyện và từ thiện trên địa bàn TP.HCM.
2 giờ
Sự Kiện
Việt Nam có hơn 180 doanh nghiệp tham gia hội chợ THAIFEX – Anuga Asia 2026, trong đó có Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG).
2 giờ
Doanh nhân - Doanh nghiệp
Phát biểu tham luận tại chương trình hoạt động hưởng ứng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2026 với chủ đề “Khơi dậy và kết nối các nguồn lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ông Vũ Hồng Quân - Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội DNT Việt Nam, Chủ tịch DNT Gia Lai cho biết, nếu thương mại hóa thành công, Việt Nam có thể biến khoa học công nghệ thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.
4 giờ
Đồng Hành Cùng Doanh Nghiệp
Ngày 28/5, Tập đoàn Den Ouden và Tập đoàn De Heus tổ chức Lễ động thổ dự án Nhà máy Sản xuất Phân bón Hữu cơ Den Ouden GrowSolutions với công suất mỗi năm khoảng 70.000 tấn tại xã Tân Hội, tỉnh Tây Ninh.
4 giờ
Sự Kiện
Triển lãm quốc tế ngành sữa và sản phẩm sữa lần thứ 5 năm 2026 với chủ đề “Chuỗi giá trị ngành sữa: Đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững” quy tụ nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế.
4 giờ
Đồng Hành Cùng Doanh Nghiệp
Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết đang quyết liệt triển khai các giải pháp tiết kiệm điện theo Chỉ thị số 09 và Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ; đặc biệt tập trung công tác điều chỉnh phụ tải (DR), tăng cường thực hành tiết kiệm điện nơi làm việc, vận động khách hàng lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu kết hợp hệ thống pin lưu trữ điện.
1 ngày
Doanh nhân - Doanh nghiệp
Khi các quy định về thu gom và tái chế bao bì đi vào thực thi, lợi thế đang nghiêng về những doanh nghiệp đã sớm chuẩn bị. Câu chuyện tại Vinamilk cho thấy, cách tiếp cận chủ động có thể chuyển hóa áp lực tuân thủ thành hiệu quả kinh tế và lợi thế cạnh tranh bền vững.
2 ngày
Văn Hóa-Giải Trí
Ngày 27/05/2026, Tập đoàn Vingroup công bố chiến lược phát triển Công ty CP Phát triển Điện ảnh V-Film, với định hướng đầu tư dài hạn vào dòng phim tôn vinh lịch sử - văn hóa Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. Thông qua tư duy điện ảnh đương đại, quy mô sản xuất lớn và ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc, V-Film sẽ tôn vinh lịch sử, văn hóa và tinh thần dân tộc một cách sống động, hấp dẫn và có sức lan tỏa toàn cầu.
2 ngày
Doanh nhân - Doanh nghiệp
Cuộc thi, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp của sinh viên NTU có sự tham gia đồng hành của 5 doanh nghiệp ngoài trường và 8 giảng viên trong trường có sản phẩm khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp.
3 ngày
Câu Chuyện Doanh Nhân
Ngành bán lẻ toàn cầu vừa mất đi một trong những kiến trúc sư vĩ đại nhất của mình. Toshifumi Suzuki, người đứng sau sự thành công toàn cầu của chuỗi 7-Eleven, đã qua đời, để lại một di sản khổng lồ hoạt động không ngừng nghỉ.
3 ngày
Tiếng nói doanh nhân
Theo bà Lưu Thị Thanh Mẫu - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, chuyển đổi xanh giờ đây không còn là câu chuyện trách nhiệm môi trường đơn thuần, mà đã trở thành điều kiện để doanh nghiệp tồn tại, cạnh tranh và bước sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
4 ngày
Câu Chuyện Doanh Nhân
Khi giới truyền thông viết về Kazuo Inamori, họ không chỉ gọi ông là một doanh nhân thành công. Họ gọi ông bằng một danh xưng tôn kính: "Nhà hiền triết vĩ đại của nền kinh tế Nhật Bản" hay "Vị thần quản trị" (God of Management).
5 ngày
Doanh nhân - Doanh nghiệp
Chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái đang trở thành yêu cầu tất yếu để Việt Nam nâng cao chất lượng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng sức cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
1 tuần
Doanh nhân - Doanh nghiệp
Theo VCCI, khó khăn với doanh nghiệp tư nhân không tồn tại riêng lẻ mà liên kết chặt chẽ, tác động lớn đến khả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1 tuần
Doanh nhân - Doanh nghiệp
Tối 19/5/2026, Hội Doanh nghiệp khu vực Chợ Lớn đã tổ chức thành công chương trình “Đêm đồng hành - Connect & Cheers”. Đây là sự kiện gặp gỡ đặc biệt được thiết kế dành riêng cho các hội viên mới, đánh dấu bước đi chiến lược trong việc xây dựng một cộng đồng kinh doanh gắn kết và chất lượng.
1 tuần
Xem thêm