Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang: Thể chế tạo đường băng, doanh nghiệp tạo lực đẩy
(DNTO) - Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 vòng địa phương tỉnh Tuyên Quang, ông Nguyễn Hữu Thập cho rằng cải cách thể chế chỉ có ý nghĩa khi thủ tục nhanh hơn, vốn được khơi thông và doanh nghiệp nhìn thấy kết quả cụ thể.
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 vòng địa phương - tỉnh Tuyên Quang ngày 11/9/2026, ông Nguyễn Hữu Thập, Ủy viên Ban Chấp hành VCCI, Phó Chủ tịch Hiệp hội Pháp chế doanh nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang, cho rằng yêu cầu cấp thiết hiện nay không phải ban hành thêm khẩu hiệu cải cách, mà là đưa chính sách đến tận khâu thực thi.
Theo ông Thập, một chính sách tốt cuối cùng phải trả lời được ba câu hỏi từ phía doanh nghiệp: phải làm gì, ai chịu trách nhiệm và bao giờ hoàn thành.
“Nếu một chủ trương dù đúng nhưng chưa đi qua được hồ sơ đầu tư, dự án sản xuất, hợp đồng tín dụng hay đơn hàng xuất khẩu thì với doanh nghiệp, chủ trương ấy vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống”, ông nói.
Bức tranh kinh tế tám tháng đầu năm 2026 cho thấy những tín hiệu tích cực khi sản xuất công nghiệp tăng 11,9%, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tăng 55,4%. Tuy nhiên, sức khỏe của khu vực doanh nghiệp chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng. Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động giảm 1,4%, trong khi bình quân mỗi tháng có 19.700 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Một nghịch lý khác cũng được ông Thập chỉ ra là khu vực FDI hiện chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 19,9%.
“Thu hút vốn bên ngoài phải đồng thời nuôi lớn doanh nghiệp Việt Nam; tăng trưởng nhanh phải đi cùng năng lực nội sinh mạnh”, ông Thập nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Hữu Thập, Ủy viên Ban Chấp hành VCCI, Phó Chủ tịch Hiệp hội Pháp chế doanh nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang
Ba điểm nghẽn trong thực thi chính sách
Tại Tuyên Quang, sáu tháng đầu năm, GRDP tăng 7,72%, riêng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 10,29%. Đến ngày 10/6, toàn tỉnh có 6.765 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký hơn 96.375 tỷ đồng. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 10.000 doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hữu Thập, với đặc thù địa bàn miền núi rộng, khoảng cách giữa các khu vực lớn, chi phí logistics cao và phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, mỗi ngày chờ thủ tục hay mỗi lần phải bổ sung hồ sơ đều trở thành chi phí thực tế.
Ông Thập đề xuất mô hình “một vấn đề - một đầu mối - một thời hạn - một kết quả”. Mỗi kiến nghị của doanh nghiệp cần được số hóa, cấp mã và theo dõi công khai. Trong ba ngày làm việc phải xác định cơ quan chủ trì; những vấn đề liên ngành phải có một đầu mối điều phối đến khi có kết quả.
Theo ông, một hồ sơ không thể được coi là đã giải quyết chỉ vì văn bản được chuyển từ cơ quan này sang cơ quan khác hoặc doanh nghiệp nhận được một câu trả lời chung chung.

Các đại biểu tham dự Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 vòng địa phương - tỉnh Tuyên Quang ngày 11/9/2026
Hợp lực công - tư phải tạo ra kết quả cụ thể
Một đề xuất khác được ông Thập đưa ra là chuyển từ quy trình thủ tục tuần tự sang một luồng công việc liên thông đối với dự án đầu tư.
Ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng, nhà đầu tư cần được tham vấn với đầy đủ các cơ quan liên quan để thống nhất những vấn đề về quy hoạch, đất đai, môi trường, xây dựng và điều kiện chuyên ngành. Tỉnh cũng cần hình thành “phòng dữ liệu nhà đầu tư” dùng chung, công khai quy hoạch, quỹ đất, hạ tầng, trình tự và biểu mẫu; dữ liệu đã được tiếp nhận hợp lệ không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại.
Ông Thập đồng thời đề xuất xây dựng mô hình “hợp lực công - tư thế hệ mới”, trong đó phạm vi hợp tác không chỉ giới hạn ở PPP mà mở rộng sang thiết kế chính sách, chuẩn bị dự án, chia sẻ dữ liệu, phát triển nhân lực, đặt hàng và mua sắm công theo quy định.
Hằng năm, tỉnh có thể công bố danh mục các bài toán cần doanh nghiệp tham gia, từ hạ tầng cụm công nghiệp, logistics, xử lý chất thải đến du lịch, giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số và giám sát môi trường.
Trong mô hình này, Nhà nước xác định nhu cầu, tiêu chuẩn dịch vụ và cơ chế giám sát; doanh nghiệp đề xuất giải pháp, công nghệ, vốn và năng lực vận hành. Với các dự án đủ điều kiện PPP, hợp đồng cần phân bổ rủi ro cho bên có khả năng kiểm soát tốt nhất, đồng thời gắn thanh toán với chất lượng đầu ra.
Một giải pháp khác là sử dụng mua sắm công và các dự án lớn để tạo thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Tỉnh cần công khai sớm nhu cầu mua sắm trong 12-24 tháng, chia gói thầu hợp lý để doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội tham gia, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp lớn và FDI phát triển mạng lưới nhà cung cấp trong nước.
Đáng chú ý, ông Thập đề xuất Tuyên Quang xây dựng “Cam kết thực thi công - tư”, lựa chọn 10 thủ tục hoặc nhóm vấn đề gây nhiều chi phí nhất để thí điểm trong 90 ngày sau Diễn đàn.
Đến giữa năm 2027, mục tiêu đặt ra là 100% kiến nghị được cấp mã và theo dõi; ít nhất 80% vụ việc được trả lời đúng hạn; giảm tối thiểu 30% thời gian và chi phí tuân thủ đối với 10 thủ tục được lựa chọn.
Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cũng cam kết tham gia giám sát và phản ánh việc thực hiện các cam kết.
Theo ông Thập, trong sáu tháng đầu năm, Hiệp hội đã tham gia hơn 40 cuộc họp, hội nghị và góp ý hơn 200 dự thảo, văn bản, hồ sơ liên quan đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phối hợp tổ chức 34 lớp tập huấn chuyển đổi số và ứng dụng AI, kết nối tới 124 xã, phường.
“AI làm nhanh phần xử lý; con người giữ phần trách nhiệm”, ông nói.
Từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp, ông Thập cho rằng cải cách thể chế không phải Nhà nước nhượng bộ doanh nghiệp, mà là nâng chuẩn phục vụ; đồng thời doanh nghiệp cũng phải nâng chuẩn trách nhiệm.
Doanh nghiệp cần cạnh tranh bình đẳng, được biết trước chính sách, được bảo vệ khi làm đúng và được trả lời đúng hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, chăm lo người lao động và chủ động đổi mới.
“Thể chế tạo đường băng, doanh nghiệp tạo lực đẩy, còn niềm tin chính là nhiên liệu để kinh tế tư nhân cất cánh”, ông Thập nói.
Theo ông, đột phá thể chế không nhất thiết bắt đầu bằng một văn bản lớn. Nó có thể bắt đầu từ việc một kiến nghị được giao đúng người, một hồ sơ được xử lý đúng hạn hay một dự án không còn phải đi qua quá nhiều cửa.
Khi những thay đổi đó được lượng hóa bằng thời gian, chi phí, số dự án và việc làm mới, cải cách thể chế mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng.