Bộ Công Thương vừa ban hành biểu giá bán lẻ điện mới với giá bán lẻ điện bình quân là 2.159,9037 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Biểu giá áp dụng từ ngày 1/11/2026.
Biểu giá quy định cụ thể mức giá điện đối với các nhóm khách hàng sử dụng điện cho sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, hành chính sự nghiệp và các đơn vị bán lẻ điện.
Giá điện sinh hoạt từ 6 bậc xuống còn 5 bậc
Một trong những thay đổi cơ bản của biểu giá bán lẻ mới so với biểu giá trước đây là việc cải tiến biểu giá điện sinh hoạt từ 6 bậc xuống còn 5 bậc và thiết kế lại bậc tiêu thụ giữa các bậc.
Cụ thể, bậc 1 áp dụng đối với 100 kWh đầu tiên, có giá 1.901 đồng/kWh. Bậc 2 áp dụng cho lượng điện từ kWh thứ 101 đến 200, với giá 2.289 đồng/kWh.
Bậc 3 áp dụng đối với lượng điện từ kWh thứ 201 đến 400, có giá 2.894 đồng/kWh. Bậc 4 áp dụng cho lượng điện từ kWh thứ 401 đến 700, với giá 3.456 đồng/kWh. Bậc 5 áp dụng đối với lượng điện từ kWh thứ 701 trở lên, có giá 3.844 đồng/kWh.
Như vậy, giá điện sinh hoạt thấp nhất là 1.901 đồng/kWh và cao nhất là 3.844 đồng/kWh, tùy theo mức tiêu thụ điện của khách hàng.
Đối với khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt, tiền điện được tính theo từng bậc tiêu thụ. Sản lượng điện thuộc bậc nào được áp dụng đơn giá của bậc đó.
Giá điện sản xuất được quy định theo cấp điện áp và thời gian sử dụng
Đối với nhóm khách hàng sử dụng điện cho sản xuất, biểu giá bán lẻ điện được phân chia theo cấp điện áp và ba khung giờ gồm giờ bình thường, giờ thấp điểm và giờ cao điểm.
Ở cấp điện áp từ 220 kV trở lên, giá điện giờ bình thường là 1.771 đồng/kWh, giờ thấp điểm là 1.101 đồng/kWh và giờ cao điểm là 3.110 đồng/kWh.
Đối với cấp điện áp trên 35 kV đến dưới 220 kV, giá điện giờ bình thường là 1.792 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.123 đồng/kWh và giờ cao điểm 3.218 đồng/kWh.
Ở cấp điện áp trung áp, trên 1 kV đến 35 kV, giá điện giờ bình thường là 1.814 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.166 đồng/kWh và giờ cao điểm 3.348 đồng/kWh.
Đối với cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, giá điện giờ bình thường là 1.966 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.274 đồng/kWh và giờ cao điểm 3.586 đồng/kWh.
Giá điện đối với cơ quan hành chính, bệnh viện, trường học
Đối với nhóm khách hàng hành chính sự nghiệp, Bộ Công Thương quy định mức giá bán điện riêng cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở giáo dục và hoạt động chiếu sáng công cộng, đơn vị hành chính sự nghiệp.
Cụ thể, đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở giáo dục, giá điện ở cấp điện áp từ trung áp trở lên, trên 1 kV, là 1.901 đồng/kWh. Đối với cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, giá điện là 2.030 đồng/kWh.
Đối với hoạt động chiếu sáng công cộng và các đơn vị hành chính sự nghiệp, giá điện ở cấp điện áp từ trung áp trở lên là 2.095 đồng/kWh; ở cấp điện áp hạ áp đến 1 kV là 2.181 đồng/kWh.
Giá điện kinh doanh cao nhất 5.313 đồng/kWh
Đối với nhóm khách hàng sử dụng điện cho kinh doanh, biểu giá mới phân chia thành ba nhóm gồm cơ sở lưu trú du lịch, hoạt động sạc xe điện và các hoạt động kinh doanh khác.
Đối với cơ sở lưu trú du lịch sử dụng điện ở cấp điện áp từ trung áp trở lên, giá điện giờ bình thường là 1.814 đồng/kWh, giờ thấp điểm là 1.166 đồng/kWh và giờ cao điểm là 3.348 đồng/kWh.
Ở cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, giá điện áp dụng cho cơ sở lưu trú du lịch lần lượt là 1.966 đồng/kWh vào giờ bình thường, 1.274 đồng/kWh vào giờ thấp điểm và 3.586 đồng/kWh vào giờ cao điểm.
Đối với hoạt động sạc xe điện, giá bán điện ở cấp điện áp từ trung áp trở lên là 2.549 đồng/kWh vào giờ bình thường, 1.534 đồng/kWh vào giờ thấp điểm và 3.758 đồng/kWh vào giờ cao điểm.
Ở cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, mức giá tương ứng là 2.700 đồng/kWh, 1.620 đồng/kWh và 4.212 đồng/kWh.
Đối với các hoạt động kinh doanh khác, giá điện ở cấp điện áp từ trung áp trở lên là 2.829 đồng/kWh vào giờ bình thường, 1.577 đồng/kWh vào giờ thấp điểm và 4.924 đồng/kWh vào giờ cao điểm.
Ở cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, giá điện giờ bình thường là 3.089 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.880 đồng/kWh và giờ cao điểm 5.313 đồng/kWh.
Giá bán điện đối với các đơn vị bán lẻ điện nông thôn
Bên cạnh biểu giá bán lẻ điện trực tiếp cho khách hàng, Bộ Công Thương cũng quy định giá bán điện đối với các đơn vị bán lẻ điện nông thôn.
Đối với điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt, giá bán điện được chia thành 5 bậc.
Theo đó, bậc 1, áp dụng cho 100 kWh đầu tiên, có giá 1.582 đồng/kWh. Bậc 2, từ kWh thứ 101 đến 200, có giá 1.795 đồng/kWh. Bậc 3, từ kWh thứ 201 đến 400, có giá 2.236 đồng/kWh.
Bậc 4, từ kWh thứ 401 đến 700, có giá 2.754 đồng/kWh. Bậc 5, từ kWh thứ 701 trở lên, có giá 3.142 đồng/kWh.
Đối với điện sử dụng cho các mục đích khác, giá bán điện cho đơn vị bán lẻ điện nông thôn là 1.719 đồng/kWh.
Biểu giá này áp dụng đối với các đơn vị bán lẻ điện nông thôn được cấp giấy phép hoạt động điện lực trước ngày 1/7/2025; đồng thời áp dụng đối với các đơn vị bán lẻ điện nông thôn thuộc diện được cấp giấy phép hoạt động điện lực lần đầu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 Luật Điện lực số 61/2024/QH15, từ thời điểm áp dụng biểu giá điện này.
Ngoài ra, Biểu giá quy định cụ thể mức giá điện cho đơn vị bán lẻ điện khu tập thể, cụm dân cư; giá điện cho đơn vị bán lẻ điện tại tổ hợp thương mại, dịch vụ và sinh hoạt; giá điện cho đơn vị bán lẻ điện tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Biểu giá bán điện mới chính thức được áp dụng từ ngày 1/11/2026.
Hiện nay, mức lãi suất cho vay chương trình bình ổn thị trường khoảng từ 6.5- 8%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 8.8-9.8%/năm đối với cho vay dài hạn, đã trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp về chi phí vay vốn, tạo điều kiện tiết giảm chi phí đầu vào và sử dụng vốn hiệu quả, từ đó tham gia tích cực vào chương trình.
Công trình này không chỉ nhận được 6,6 triệu USD từ Quỹ Bill và Melinda Gates mà còn góp phần giúp ông thu hút tổng cộng 25 triệu USD tiền tài trợ nghiên cứu.
Chỉ cần có sức khỏe tốt và nằm trong độ tuổi từ 18 đến 55, người lao động ứng tuyển vị trí nhân viên vệ sinh công trường tại tổng thầu VinCons (thuộc Tập đoàn Vingroup).
Khi thị trường tài chính quốc tế đối mặt với những nhịp trồi sụt khôn lường, giới đầu tư toàn cầu đang âm thầm dịch chuyển dòng vốn sang các kênh trú ẩn an toàn. Kim loại quý trở thành tâm điểm chú ý trong bối cảnh các ngân hàng trung ương duy trì lập trường thận trọng về chính sách tiền tệ.